Linh Mục

[ Điểm đánh giá5/5 ]1 người đã bình chọn
Đã xem: 6066 | Cật nhập lần cuối: 8/2/2014 8:36:32 PM | RSS

Kính thưa quý vị, để canh tân Giáo Hội theo ý của Đức Giáo Hoàng Fransisco, dám nhìn sự thật để sống tốt hơn và đúng theo lòng Chúa mong muốn. Để cho giáo dân hiểu hơn về những khó khăn của các Linh mục để cầu nguyện và khước từ những sai trái, chúng tôi xin trích lại một số chia sẻ của các giám mục và linh mục của các trang mạng khác.

I, Vài suy nghĩ gởi các tân linh mục: Người được Chúa sai đi

http://linhhon.org/vai-suy-nghi-goi-cac-tan-linh-muc-nguoi-duoc-chua-sai-di/)

1. Những ngày tháng hiện nay, tại Hội Thánh Việt Nam, một sự kiện đang được đề cao và đang được phổ biến. Đó là số linh mục tăng thêm khá nhiều.Trước sự kiện này, tôi nhớ tới lời Chúa Giêsu nói với các tông đồ: “Như Chúa Cha đã sai Thầy, thì Thầy cũng sai các con” (Ga 20,21).

Xưa chính Chúa Giêsu nói lời sai đi. Còn nay, lời sai đi của Chúa Giêsu được gởi tới các tân linh mục qua các vị đại diện của Hội Thánh tại mỗi địa phương.Tin vào lời sai đi đó là việc của mỗi người. Nhiều người không tin. Nhiều người hoài nghi. Nhiều người dửng dưng. Nhiều người tin, nhưng với mức độ khác nhau.Tiếng nói của bề trên trong đạo trong việc sai đi không áp đặt được niềm tin. Những thái độ khác nhau của quần chúng trong xã hội trước lời sai đi đó càng ngày càng phức tạp. Nhiều phức tạp cũng do chính nội bộ chúng ta.Ở đây, tôi xin nêu lên một số phức tạp.
2. Hiện nay lời sai đi thường được đề cao bằng một thánh lễ phong chức. Thánh lễ này vẫn còn được thực hiện một cách sốt sắng ở một số nơi. Nhưng chiều hướng biến thánh lễ phong chức thành một thứ biểu diễn đang lan dần. Khi có những diễn biến làm thất vọng những tâm hồn khao khát gặp Chúa và cõi thiêng liêng, thì một thánh lễ bị tục hoá sẽ khó làm cho người ta tin lời sai đi của Chúa trong thánh lễ đó. Hơn nữa, hiện nay, nhiều nơi các lễ tạ ơn sau lễ phong chức được tổ chức với nhiều hình thức quá đáng, dễ bị hiểu lầm như một cuộc ăn mừng nặng về danh lợi.

3. Hiện nay, lời sai đi cũng thường được đề cao bằng những lời ca tiếng hát chúc tụng linh mục. Thí dụ ngài là nhân chứng Nước Trời, là đèn sáng soi khắp trần gian, là người có xác hồn trắng tinh, là người có trái tim nồng cháy, là người có đôi chân đẹp rảo khắp nẻo đường, để loan báo Tin Mừng, là Chúa Kitô khác. Những lời ca tụng như vậy có thể sẽ làm cho nhiều vị linh mục hết sức xấu hổ. Các ngài nhớ tới lời Chúa phán xưa: “Chúng đã được thưởng công rồi” (Mt 6,2.5.16). Nhất là các ngài nhớ tới lời Chúa phán xưa: “Ta không biết các ngươi là ai” (Mt 25,12).

Thái độ của quần chúng hiện nay trước những lời ca tụng đó, nếu là dửng dưng, thì còn đỡ ngại. Rất tiếc là có một sự phản tác dụng trong nhiều trường hợp.

4. Hiện nay, các linh mục được nhiều người nhìn với nhiều cái nhìn nâng lên, nhưng lại không mấy thiện cảm. Thí dụ ngài trở thành người của một giai cấp đặc quyền đặc lợi, từ nay một mình nắm quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp trong họ đạo. Ngài từ nay thuộc loại người được các thế lực ngoại bang quan tâm chiếu cố. Ngài từ nay trở thành chủ chăn, được đoàn chiên tùng phục. Những cái nhìn như có thể gây khó cho các tân linh mục. Cái khó đó dễ trở thành nguy hiểm gây hại cho các ngài.

5. Thực sự những ác thần của hoả ngục đang hết sức nhiệt tình giúp cho các linh mục được nhiều thành công bề ngoài, để biến chất các ngài.Và thực sự đang có nhiều dư luận làm cho dung mạo người linh mục được sai đi tại Việt Nam hôm nay có thể bị xấu đi, không gây được niềm tin nơi quần chúng. Tuy nhiên, vẫn có những dấu chỉ cho thấy hy vọng đang thực sự phát triển trong lớp các tân linh mục.Nhiều dấu chỉ của hy vọng đang xuất hiện rõ nét. Ở đây, tôi chỉ xin nêu một số dấu chỉ đó.

6. Một dấu chỉ đáng coi là chắc chắn mang hy vọng nhất, đó là các tân linh mục nhận ra điều này: Mình được sai đi. Bài sai được viết ra, có chữ ký của Bề trên, để làm chứng. Nhưng, để làm chứng là mình được chính Chúa sai đi, thì không căn cứ vào bài sai, mà phải căn cứ vào chính lối sống của mình. Lối sống của người được Chúa sai đi là bước theo Chúa. Chúa bước đi trên con đường yêu thương, thì mình cũng phải bước theo bước của Ngài. Bước yêu thương của Chúa có dấu ấn khiêm nhường, khó nghèo và hy sinh. Bước đi của mình cũng phải vậy.

7. Một dấu chỉ nữa rất đáng coi là mang nhiều hy vọng, đó là các tân linh mục nhận ra sự thực này: Tình hình hiện nay đang bị đe doạ bởi nhiều nguy cơ. Nguy cơ lớn nhất chính là sự suy thoái về đạo đức. Nguy cơ này sẽ chỉ giải quyết được bằng ơn cứu độ của Chúa Giêsu trên thánh giá. Để cộng tác vào công cuộc cứu độ của Chúa Giêsu, linh mục sẽ coi những đau khổ của thánh giá là một danh dự lớn của đời mình.

8. Một dấu chỉ nữa cũng rất đáng coi là mang nhiều hy vọng, đó là các tân linh mục nhận ra chính bản thân mình rất yếu đuối. Nên các ngài luôn cậy tin vào Chúa. Đồng thời, các ngài luôn thông cảm với những người yếu đuối. Cùng với họ, các ngài luôn chạy đến tìm nương tựa nơi lòng thương xót Chúa.

9. Ba dấu chỉ trên đây đang làm cho các tân linh mục biết sống khiêm nhường.Khiêm nhường nói đây sẽ đi đôi với sự khó nghèo. Một cuộc sống khiêm nhường và khó nghèo, bước theo con đường yêu thương của Chúa Giêsu, đó chính là bài sai, mà người linh mục giới thiệu mình với đồng bào Việt Nam hôm nay.Đồng bào Việt Nam hôm nay đợi chờ ở các tân linh mục những giá trị đạo đức và một luồng gió thánh thiện.Họ khao khát gặp được Chúa Cứu Thế qua chính những người được Hội Thánh sai đi.Họ rất mong đời sống họ được đổi mới sâu rộng bởi một Đấng Thiêng Liêng giàu lòng thương xót, qua những người nhận mình là người được Chúa sai đến với họ và gần gũi họ.Họ mong chờ được yêu thương, nhất là khi họ lâm cảnh lầm than khốn khổ không nơi nương tựa.Với những tâm tình trên đây, tôi xin cầu chúc các tân linh mục thân yêu đang được sai đi biết luôn sẵn sàng được Chúa đào tạo thêm, cũng như sẽ không ngại được Chúa thanh luyện bằng những thử thách thường xuyên và bất ngờ.Phần thưởng dành cho các người được Chúa sai sẽ không phải là những thành công, mà là chính Chúa: “Chúa là gia nghiệp đời con”.

II, Vấn đề đào tạo Linh Mục ở Việt Nam
LM. Petrus Nguyễn Văn Hương3/26/2014. Trích từ nguồn: (http://www.vietcatholic.net/News/Html/122218.htm)


Việc đào tạo ở trong Giáo Hội
Trong công việc đào tạo linh mục – tu sỹ nam nữ của Giáo Hội, chúng ta cũng được cảnh báo về hiện tượng “nín thở qua sông” của ứng sinh; hay mô hình đào tào linh mục – tu sỹ thiếu tính thống nhất và tính toàn vẹn, đã đưa công cuộc đào tạo này rơi vào tình trạng một chiều như duy tri thức, duy tu đức, duy luân lý, hay duy kỹ năng và duy hiệu quả…
Kiểu huấn luyện một chiều thường quá chú trọng đến một phương diện mà lãng quên các phương diện khác. Chẳng hạn, lối huấn luyện duy tu đức là khuynh hướng giảm thiểu một cách nền tảng con người và toàn bộ chương trình đào tạo chỉ trong yếu tố tu đức, tâm linh mà thôi, trong khi đó lại lãng quên những yếu tố khác về nhân bản, tri thức và mục vụ; lối huấn luyện này ít quan tâm tới các vấn đề của con người, như sự trưởng thành tâm sinh lý, tình cảm, tính dục và tương quan liên vị... của ứng sinh. Họ được huấn luyện để trở thành những con người trong trắng như “những thiên thần” vậy, mà không hề biết nhiều về những thực tại “con người”!
Hoặc lối giáo dục duy tri thức là kiểu giáo dục chỉ lo lắng trau dồi tri thức, nhồi nhét kiến thức. Đào tạo chỉ tập trung vào “cái đầu” nhưng lãng quên toàn bộ con người. Đó là “những con mọt sách” hay những người có “đầu to mà đít nhỏ”, thiếu sự quân bình trong nhân cách v.v...
Ngược lại, lối giáo dục duy kỹ năng hay duy hiệu quả là lối huấn luyện chỉ tập trung trang bị cho các thụ huấn sinh những kỹ năng sống, kỹ năng thi hành sứ vụ hay làm việc và đánh giá họ theo chỉ tiêu chuẩn hiệu quả công việc, trong khi đó lại lãng quên huấn luyện căn tính và nhân cách của họ trước. Phải tập trung huấn luyện và hình thành nơi ứng sinh “căn tính tốt” trước khi “làm việc tốt”. Cần tránh lối huấn luyện chạy theo chức năng và vai trò mà lãng quên việc huấn luyện căn tính. Vì như cha ông ta nói: “Tốt gỗ hơn tốt nước sơn”. Phải “là” linh mục trước khi “làm” linh mục. Cần huấn luyện có căn tính tốt trước khi thi hành sứ vụ.Trước hết, đó là nguy cơ mô hình huấn luyện mơ hồ, nghĩa là không xác định được mục đâu là mô hình nền tảng và chính yếu để toàn bộ chương trình huấn luyện dựa vào đó làm mô mẫu và chuẩn mực. Nguy cơ thứ hai là mục tiêu huấn luyện thiếu rõ ràng. Việc huấn luyện không có mục tiêu. Nhà huấn luyện và người thụ huấn không biết sẽ phát xuất từ đâu và sẽ đi về đâu; huấn luyện để làm gì v.v... Ở đây, các mục tiêu huấn luyện không được xác định.Tương lai của Giáo Hội tùy thuộc rất nhiều vào công cuộc đào tạo nhân sự. Vì thế, hơn lúc nào hết, các Chủng Viện và các Dòng Tu cần có những nỗ lực cụ thể nhằm canh tân cách đúng đắn và triệt để công cuộc đào tạo linh mục và tu sỹ theo những đòi hỏi của Giáo Hội hiện nay, ngõ hầu việc đào tạo này mang lại nhiều hoa quả tốt đẹp cho sứ vụ loan báo Tin Mừng của Giáo Hội trong thế hiện hôm nay.

III. A. LINH MỤC, NGƯỜI SỐNG CÓ NHÂN BẢN

Trích từ: www.caimon.org/Phutsuytu/CHIA%20SE%20VOI%20EM/linhmucnhanban.htm

1. Lòng biết ơn

Biết ơn tức là hiểu sâu sắc và ghi nhớ công ơn của người khác đối với mình, mà người luôn ghi nhớ công ơn của người khác trước tiên là linh mục. Biết ơn mọi người, vì ngoài chủng viện hoặc hội dòng ra, thi còn biết bao nhiêu người mà người linh mục phải biết ơn.Thời nay người ta cần những linh mục thích cầu nguyện hơn linh mục giỏi viết sách, người ta cần đến những linh mục biết thông cảm hơn những linh mục thông thái mà kiêu ngạo thô lỗ.

2. Tiết chế

Nhưng nếu em muốn đi tu trở thành một linh mục –đương nhiên là một linh mục thánh thiện- thì em cần phải tập cho mình tính tiết chế ngay từ bây giờ, bằng không khi em đã làm linh mục rồi, thì em sẽ khó mà tiết chế mình được, vì lúc đó em có một ý tưởng rất kỳ quái là: đỗ linh mục rồi, sợ quái gì nữa. Vâng, làm linh mục rồi thì không sợ gì nữa, không sợ bị đánh rớt bài thi, không sợ người khác dọa nạt, không sợ đói, không sợ thiếu tiền tiêu.v.v...nhưng điều mà người linh mục phải sợ chính là sợ đánh mất phẩm giá linh mục nơi mình

a. Tiết chế lời nói

Sách Cách Ngôn dạy rằng:

“Kẻ ngu si không kìm được giận dữ,

Người khôn khéo biết nén nhục nuốt sầu”

Làm linh mục thì càng phải tiết chế lời nói nhiều hơn, nói khi cần nói và nín thinh khi không cần thiết phải nói. Anh đã thấy một vài linh mục trẻ nói cho sướng miệng, nói cách giận dữ mà không tiết chế lời nói của mình, kết quả là họ đã xúc phạm đến nhân phẩm của người khác và hạ uy tín của mình trước người khác.

Tiết chế lời nói khi tranh luận,

Tiết chế lời nói khi hội họp,

Tiết chế lời nói khi muốn phê bình người khác,

Tiết chế lời nói khi phát biểu...

b. Tiết chế nóng giận

Nóng tính giận dữ là bởi coi mình quá cao trọng hơn người khác, thường có ý tưởng mình giỏi hơn người khác và muốn mọi ý kiến, mọi lời nói của mình cần được người khác nghe và thi hành, cho nên những linh mục có tính giận dữ thì giáo dân chỉ đứng xa xa mà nhìn, và không muốn cộng tác với ngài trong mọi việc ở nhà xứ. Làm linh mục là để bày tỏ sự hiền lành và khiêm tốn của Chúa Giê-su giữa mọi người, chứ không phải bày tỏ một quyền uy của một chủ nhân ông giữa một cộng đoàn dân Thiên Chúa ngay trong giáo xứ của mình, Con người thời nay rất nhạy bén với hành vi ngôn ngữ của các linh mục, họ nhạy bén là vì càng ngày họ càng hiểu rõ giáo lý của Giáo Hội hơn, họ nhạy bén là vì họ không còn giữ đạo theo kiểu pháo đài nữa, nhưng là họ sống đạo giữa đời theo kiểu men trong bột, và họ chỉ mong muốn các linh mục của Giáo Hội sống thật hiền lành và khiêm tốn như Chúa Giê-su, thế là họ an tâm phó thác linh hồn cho các vị mục tử ấy.

c. Tiết chế ăn uống

Các nhà tu đức học đều rất chú trọng đến việc tiết chế ăn uống, nghĩa là họ đã nghiên cứu sâu xa về việc ăn uống thoải mái và có nhiều chất dinh dưỡng rất có hại đến đời sống tu đức của các linh mục tu sĩ, bởi vì khi ăn uống no say thì có một trạng thái phát sinh theo là cảm thấy mệt và làm biếng, sau đó thì muốn nghỉ ngơi, em thử nghĩ xem, nếu một ngày chúng ta ăn ba bữa sáng trưa chiều tối với đầy đủ các thứ dinh dưỡng như bia rượu, thì thân xác của chúng ta ngày càng béo phì ra và trở nên mệt nhọc nặng nề không ưa thích hoạt động gì cả…

cho nên không lạ gì có nhiều linh mục xem ra đẹp mã tốt tướng nhưng thân mang đầy bệnh hoạn. Tiết chế ăn uống giúp cho chúng ta được rất nhiều việc, mà ý nghĩa lớn lao nhất trong việc tiết chế ăn uống chính là biết cảm nghiệm sự thiếu thốn với những người nghèo khó.

d. Tiết chế sự vui vẻ

Vui vẻ là điều ai cũng muốn, nhất là sự vui vẻ nơi các linh mục của Chúa Giê-su, vui vẻ thì luôn đem lại bầu khi vui tươi cho những người chung quanh, nó là cây cầu nối kết giữa những người chưa quen biết với nhau, như những đóa hoa đem tặng cho nhau giữa ngày đại hội.

Ma quỷ thường lợi dụng sự vui vẻ quá độ để lôi kéo người ta phạm tội, linh mục cũng không ngoài “tầm ngắm” của nó, bởi vì ma quỷ rất hiểu tâm lý và nhu cầu của con người, vì khi người ta buồn bực thì ít phạm tội hơn khi người ta vui vẻ, cho nên biết tiết chế vui vẻ chính là một việc làm có tính cách hổ trợ cho tinh thần tu đức mà có lẽ ít người biết, hoặc biết mà không để ý cho mấy...

3. Biết lắng nghe

Lắng nghe cũng là thái độ khiêm tốn của người mục tử, bởi vì có những linh mục không hề biết lắng nghe lời góp ý của giáo dân, các ngài chỉ muốn giáo dân thụ động nghe lời của mình mà thôi, nên giáo xứ của các ngài vắng đi nụ cười thân ái giữa cha và con, vắng đi lời giảng hùng hồn truyền cảm của cha sở, vì lòng ngài không vui khi có giáo dân góp ý cho mình trong việc xây dựng giáo xứ

4. Biết thinh lặng

Người linh mục khôn ngoan là người biết thinh lặng đúng lúc, dù đang tranh cải gay cấn, dù đang bực tức, dù sự ấm ức lâu ngày dồn nén trong lòng, thì cũng phải biết thinh lặng đúng chỗ, đó chính là một ơn lành mà Thiên Chúa ban cho các linh mục của Ngài. Trong cuộc sống đời thường, sự thinh lặng đúng lúc luôn là liều thuốc giải độc cho các trường hợp, bởi vì sự thinh lặng này không phải là đồng lõa nhưng là sự nghỉ ngơi của khôn ngoan.

5. Biết tế nhị

Linh mục là người thường tiếp xúc với giáo dân, mà giáo dân thì có đủ nhiều thành phần học thức và không học thức, nghề nghiệp khác nhau và sự giáo dục cũng khác nhau, cho nên việc tế nhị đối với các linh mục rất là cần thiết, mà nơi cần phải tế nhị nhất là tòa giảng và khi giao tiếp với giáo dân.

6. Đơn sơ - Thật thà

Nhưng em cần phải hiểu rõ ràng như thế này, các linh mục tu sĩ cũng là những con người, và các ngài đang sống giữa một xã hội lắm phức tạp như mọi người khác. Có một vài lần khi tiếp xúc với giáo dân hay bạn bè thì chắc là em co nghe một vài lời nói: “Ông cha này tính tình rất đơn sơ, còn ông cha kia sao ma lanh quá; ông cha này ăn nói thật thà, còn ông cha kia sao ăn nói ba xạo thế.v.v…”. Em đừng ngạc nhiên gì cả, bởi vì mỗi một linh mục đều bị ảnh hưởng rất lớn do môi trường và hoàn cảnh giáo dục: có linh mục sinh ra trong cảnh nghèo đầu tắt mặt tối làm việc nuôi gia đình; có linh mục thì sống trong cành giàu sang phú quý; có linh mục thì xuất thân bởi thành phần trung lưu; đó là chưa kể hoàn cảnh gia đình của các ngài như thế nào nữa đó…

B. LINH MỤC VÀ ĐỜI SỐNG TU ĐỨC

1. Cầu nguyện

Đi tu thì ai cũng biết cầu nguyện là vấn đề ưu tiên hàng đầu của họ, cho nên giáo dân không lạ gì khi thấy các linh mục và các tu sĩ nam nữ cầu nguyện luôn và cầu nguyện lâu giờ trong nhà thờ, sau thánh lễ hoặc bất kỳ lúc nào, bởi vì cầu nguyện làm cho linh mục tu sĩ cũng như giáo dân càng liên hệ mật thiết gắn bó với Chúa Giê-su hơn nữa.

2. Lòng khiêm nhường

Em biết không, có rất nhiều giáo dân to nhỏ với nhau là không ai kiêu ngạo cho bằng các linh mục, không ai hách cho bằng linh mục.v.v...nhưng em cũng biết rằng, không phải tất cả các linh mục đều xấu xa và đều sống cách kiêu ngạo, nhưng thực tế thì chỉ có một vài vị đếm trên đầu ngón tay mà thôi.

Nhưng đó cũng là lời cảnh tỉnh cho các linh mục và cho những ai muốn làm linh mục, nếu em muốn làm linh mục để cho oai, để được ăn trên ngồi trước, hoặc là để được thỏa mãn tính kiêu căng của mình thì anh khuyên em đừng đi tu làm linh mục,

Kiêu ngạo thì luôn phá đổ những gì mà mình hoặc người khác đã xây dựng, kiêu ngạo được che giấu dưới mọi hình thức: nói để xây dựng, nói để mà biết, nói để hiểu rõ nhau hơn, nhưng tất cả những lý do đó đều bị gạt bỏ vì thái độ kiêu ngạo, hằn học, giận dữ và cố chấp khi chúng ta đối chất với người khác.

Một cha sở khiêm nhường khi tiếp xúc với giáo dân thì giáo dân thấy Chúa Giê-su đang nói chuyện với họ, nhưng một cha sở kiêu ngạo phách lối khi nói chuyện với họ, thì họ không thấy Chúa Giê-su đâu cả, mà chỉ thấy một con người tham sân si nơi cha sở mà thôi. Em đã đọc truyện thánh Gioan Maria Vianney chưa ? Ngài đã trở thành một vị thánh thời danh không phải vì học thức uyên bác nhưng là sự khiêm nhường của ngài đấy, ngài quả thật là đáng để cho chúng ta noi gương trong cuộc đời làm linh mục, làm cha sở của chúng ta.

IV, Một vài suy tư về LINH MỤC - Phêrô Trần Đình Thuần

(http://www.giaoxuthanhda.net/?module=detail&id=2157)

Linh mục và người nghèo

Trước hết, thiết nghĩ, linh mục là người giống với người nghèo, đó là không có của cải (hiểu theo nghĩa những cái không do mình gầy dựng), và bình đẳng với phẩm giá người nghèo.

Linh mục là người không có của cải, vì linh mục là dòng dõi tư tế. Theo Cựu ước, dòng dõi Lêvi không chiếm hữu gì, chỉ sống nhờ những lễ phẩm người ta dâng cúng cho Thiên

Linh mục, người lãnh đạo phục vụ

Trong thực tế, chúng ta có nhiều câu tục ngữ để nói về người lãnh đạo như: “Ăn cơm nhà vác tù và hàng tổng”, “Ăn trên ngồi trốc”, “Ăn to nói lớn”, “Một người làm quan cả họ được nhờ…” Những câu này chưa làm chúng ta thỏa mãn về ý tưởng lãnh đạo là phục vụ. Thế nhưng, ý tưởng đó lại nổi bật lên trong câu nói của Đức Giêsu, khi Ngài dạy các ông về tinh thần lãnh đạo: “Ai muốn làm lớn giữa anh em, thì phải làm người phục vụ anh em. Và ai muốn làm đầu anh em thì phải làm đầy tớ anh em”. Lời dạy đó phải là linh đạo sống của tất cả những người lãnh đạo tinh thần, đặc biệt là các linh mục, những người theo sát và có vai trò cùng trách nhiệm phản ảnh gương mặt sống động của Chúa Kitô cho nhân loại.

V. Hướng đến Năm Linh mục: Cần xem lại chương trình đào tạo các linh mục tương lai

Trích từ: (http://www.hdgmvietnam.org/huong-den-nam-linh-muc-can-xem-lai-chuong-trinh-dao-tao-cac-linh-muc-tuong-lai/436.57.7.aspx)

WHĐ (18.06.2009) – Ngày 3-06-2009, tại Rôma, Đức Tổng giám mục Jean-Louis Bruguès, Tổng thư ký Bộ Giáo dục công giáo đã có cuộc gặp gỡ các giám đốc Chủng viện giáo hoàng.

Trong bài diễn văn đọc trước các bề trên chủng viện, Đức TGM Jean-Louis Bruguès phân tích việc đào tạo các linh mục tương lai đang diễn ra trong bối cảnh xung đột gay gắt giữa trào lưu tục hóa và sự duy trì mô hình đào tạo linh mục truyền thống.

Vị Tổng thư ký của Bộ Giáo dục công giáo cho biết: “Từ lâu tôi đã cho rằng từ-chìa-khóa để nói về xã hội và Giáo Hội ngày nay chính là từ ‘tục hóa’. Dù mang hình thức nào thì quá trình tục hóa cũng đang tác động mạnh mẽ lên nền văn hóa Kitô giáo. Các bạn trẻ được giới thiệu vào chủng viện hầu như không biết gì về giáo lý, lịch sử và những tập quán của Giáo Hội. Tình trạng thiếu kiến thức văn hóa phổ thông này của các ứng viên khiến chúng tôi phải rà soát lại công việc đào tạo của mình”.

VI, Các linh mục trẻ đạo văn trên internet

Trích từ: (http://www.giadinhnazareth.org/node/3419)

Từ một tin tức cũ: Suy tư và nhận định

Một linh mục Ba Lan, Cha Wieslaw Przyczyna, đồng tác giả cuốn “cưỡng đoạt hay không cưỡng đoạt” cho biết các linh mục trẻ thường sử dụng internet để sao chép ý lời các bài giảng Thánh Lễ.

Ngài nói : “Nếu một linh mục lấy bài viết của người khác và trình bày nó như là của riêng mình từ toà giảng, không nói rõ ra Ngài có được nó từ đâu, đó là không đúng nguyên tắc xử thế và chống lại luật bảo vệ quyền tác giả. Thật không may thay, việc làm nầy đã thành quen thuộc ở nơi đây”. Ngài cho biết Ngài bị lên án là đã quấy rối các linh mục và phơi bày điểm yếu của họ, bằng việc lôi kéo chú ý về vấn đề đạo văn. Tuy thế Ngài nói thêm rằng ngày càng có nhiều tín hữu Công giáo Ba-lan phàn nàn về các linh mục đọc các bài giảng đã chép lại từ Internet. (CNS 27.02.2008)

1. Sự lười biếng tinh thần:

Không thể để tâm đọc và suy tư Kinh Thánh hằng ngày, như thức ăn nuôi sống và làm tăng triển đời sống và thừa tác vụ linh mục. Các công tác từ điều hành, giảng dạy, mục vụ,…sẽ trở thành máy móc, thụ động. Và cám dỗ đến như một hệ quả! “Nhàn cư vi bất thiện”. Trong cuộc chiến một mất một còn với Satan và các thế lực xấu xa, cũng như với bản thân (mà thường gọi nôm na là “ba thù”), linh mục phải là thuyền trưởng vững mạnh, dũng cảm và đáng tin, để mọi người an tâm vững dạ và chiến thắng tội lỗi và sự dữ. Làm sao được, khi linh mục thiếu ý chí, không vượt lên được chính mình, ươn ái và chỉ bằng lòng với vốn liếng căn bản nhận được từ “sách giáo khoa” chủng viện? Nhiều linh mục thích các hoạt động chân tay, xây dựng, thể thao, trồng trọt,v ăn nghệ, vv… Các hoạt động ấy rất tốt, nếu nó chỉ chiếm một phần nhỏ trong thời khoá biểu của linh mục, vì đơn giản chức năng và bổn phận của linh mục không bao giờ để làm những việc nầy. Ngay cả những linh mục chuyên ngành như tuyên uý (đoàn thể, bệnh viện, quân đội) cũng không phải để thi hành các công việc đặc thù đó. Vì thế, linh mục luôn phải thăng hoa, nâng cao để nên người hướng đạo cho môi người. Không có gì hơn là trau dồi kiến thức, nhất là Kinh Thánh,Thần Học.

“Nhất nghệ tinh, nhất thân vinh” và “sống nghề thác nghề”. “Đã mang lấy nghiệp vào thân” (Kiều, Nguyễn Du”, linh mục không thể ươn ái hoặc làm qua loa, chiếu lệ việc trau dồi kiến thức, trong đó đặc biệt là những kiến thức chuyên môn, giúp thực hiện hiệu quả các nhiệm vụ được Chúa và Giáo Hội tín thác. Chỉ cần bỏ bế, tự an ủi mình vì một vài lần lười biếng, thì thói quen bê trễ và tìm cớ để bỏ qua việc trau dồi sẽ chíng đến. Biết bao linh mục đánh mất nhiệt tình và ý thức ấy, để rồi sau đó hàng tháng, hàng năm và có khi cả đời không còn can đảm cầm lên một cuốn sách “khó”, đọc một bài viết chuyên môn rất ít hấp dẫn. “Ngọc bất trác bất thành khí”. Linh mục tự loại mình ra khỏi đấu trường,chỉ còn lai cái bóng lượn lờ, dù vì ảo tưởng, vì cô chấp, vì kiêu căng và cả vi lười biếng tư duy, ngài không muốn công nhận.

2. Sự tụt hậu:

“Nhân bất học bất tri lý”. Trong bất cứ lãnh vực nào, tinh thần hoặc vật chất, hễ không tiến là lùi, chứ không chỉ đơn thuần là ngừng. Số vốn liếng nhận được từ chương trình đào tạo chủng viện, chỉ là nền tảng tương đối, để tiếp tục phát triển,nâng cao và cập nhật liên tục. Tất cả đều phục vụ đời sống tâm linh và công tác mục vụ của linh mục. Thật khó chấp nhận một linh mục lười đọc sách, làm biếng nghiên cứu những gì liên quan và cần thiết cho đời sống và thừa tác vụ của mình. Những bài giảng lập đi lập lại, sáo mòn, trống rỗng, đạo văn,…những kiến thức xưa cũ trong thời đại bùng nổ thông tin, kỹ thuật, cộng với vẻ tự mãn và thái độ “toàn tri” (omniscient), sẽ khiến linh mục bị đào thải, mà có khi vẫn mơ màng cho mình là “thần tượng”. Ở một xã hội mà dòng chảy cuồn cuộn, luôn đổi mới, luôn “đói” thông tin, thì việc một linh mục tự biến mình thành ao tù nước đọng, là không thể chấp nhận được.

Thật đau lòng khi đọc tin nơi nầy nơi nọ, những linh mục lạm dụng tình dục, những tột ác ấu dâm, dần dà bị phơi ra ánh sáng, gây hại không kể xiết cho Nước Chúa. Nhưng tín hữu Công giáo và những người ngoài Công giáo rồi cũng hiểu ra rằng đó là những “con sâu làm rầu nồi canh”, tuy không ít, nhưng không phải là số nhiều. Hành vi bất xứng của họ làm cho bộ mặt Giáo Hội ra u ám, bị “bôi tro trét trấu” (và rất nhiều tín hữu Công giáo xấu hổ ngượng ngùng, chưa kể rất đông người rời bỏ Giáo Hội mà lòng day dứt đau khổ).

VII.(http://www.tinmung.net/GIAOHOI/NamLinhMuc/tin%20moi%20ve%20nam%20linh%20muc/khungkhoangtinhductronggioigiaosivatusi.htm)

NĂM LINH MỤC

KHỦNG HOẢNG TÍNH DỤC trong GIỚI GIÁO SĨ, TU SĨ

và NGUỒN GỐC KINH THÁNH về GIỚI TÍNH

Trong bài thảo luận ở đây, chỉ xin giới hạn bàn về đường hướng TU ĐỨC, hay nếp sống TÂM LINH, đặc biệt nhấn mạnh vào đời sống Thiêng Liêng,(spiritual Life) tức là Kết Hiệp với Chúa Cứu Thế, bằng ba Nhân Đức nền tảng là: Khiết Tịnh, Thanh Bần và Phục Thiện( Vâng lời vì Thiện Ích chung của Địa phận hay Dòng tu)

Bộ Ba Nhân Đức này, luôn phải đính liền nhau, và hỗ trợ cho nhau, nhưng vì tính cách khẩn thiết của cuộc khủng hoảng TÍNH DỤC toàn cầu hiện nay, nên trước tiên, xin đề cập đến Đức KHIẾT TỊNH, làm thành trì chống lại trào lưu buông thả , phóng đãng và dâm ô của cái gọi là:”Cách mạng Tính dục”(sex revolution), đã ảnh hưởng tai hại đến nếp sống tu trì, và gây ra cuộc khủng hoảng về Ơn Thiên Triệu trong Giáo Hội Công Giáo, đặc biệt tại Hoa kỳ.

I/ Cơn khủng hoảng Tính dục hiện nay trong giới giáo sĩ, đặc biệt tại Hoa kỳ;

I I/ Nguồn gốc Kinh Thánh về Giới Tính của con người và Điều Kiện của Phúc Âm đối với các môn đệ như: Tự nguyện, Hy sinh, Từ bỏ.

I/. CƠN KHỦNG HOẢNG TÍNH DỤC TRONG GIỚI GIÁO Sĩ, TU SĨ

Qua các cơ quan Truyền thông, Báo chí, Truyền hình, Truyền thanhv.v, trên thế giới trong những thập niên gần đây, người ta đã chứng kiến cuộc”khủng hoảng về Luân lý” , hay cuộc “nổi loạn” về Tính dục(Sex Revolution), đặc biệt từ năm 1960, tại Hoa Kỳ. Không cần mô tả hay nhắc lại những biến cố, hay sự kiện cụ thể mà mọi người đã biết, chỉ xin nêu ra cách tổng quát một số vấn đề đã gây náo động trong Giáo Hội, đặc biệt tại Hoa Kỳ như:

1.Tại Toà án Tiểu bang, những vụ kiện “lạm dụng tính dục đối với trẻ vị thành niên”(sex abuse of the children), khiến nhiều Giáo phận phải khai “phá sản”, tiền nộp phạt, bồi thường cho các nạn nhân có thể lên tới bạc tỷ.

Vấn đề “đồng tính luyến ái”(Homosexuality): có được phép nhận các chủng sinh có khuynh hướng về “đồng tính” vào học trong Chủng viện không? Các ứng viên là “đồng tính”, có được chịu chức Linh Mục không? Theo thông cáo của Tòa Thánh mới công bố, thì đã dứt khoát từ chối các người “đồng tính” gia nhập Chủng Viện. Người có khuynh hướng “đồng tính”, cần được chữa trị, và thử thách trong ba năm trước khi được chấp thuận chịu chức Linh Mục.

Ơn Thiên Triệu sa sút một cách thảm thương trong các nước Âu-Mỹ, các Chủng Viện thiếu chủng sinh, nên phải đóng cửa. Nhiều Thánh Đường không có đủ Linh Mục quản trị, nên phải đóng cửa hoặc sát nhập vào các Giáo xứ khác. Trái lại, tại Việt Nam, (và một số nước tại Phi Châu), số chủng sinh quá đông không đủ phòng ốc để trú ngụ; vì mỗi hai năm mới được chiêu sinh, nên các chủng sinh cần chờ đợi, trong một thời gian lâu dài mới được chấp thuận cho gia nhập Chủng viện.

Do sự thiếu hụt về ứng viên muốn làm Linh Mục, nên một số người đề nghị cho Linh Mục được phép lập gia đình. Về điểm này, gần đây trong phiên họp của Thượng Hội Đồng các Giám Mục Hoàn Cầu đã long trọng đề cao và duy trì truyền thống tốt đẹp về nếp Sống Độc thân của Linh Mục, trong Giáo Hội Công Giáo La Mã.

I I. NGUỒN GỐC KINH THÁNH và ĐIỀU KIỆN CỦA PHÚC ÂM

Muốn hiểu yếu tính của TÍNH DỤC của Nhân Loại, cần phải truy tầm về lý do hiện hữu của Con Người, tức là: Định nghĩa bản tính Con Người là gì? Tại sao Con Người( kể cả súc vật, và thảo mộc) sinh ra có “Nam- Nữ, Đực- Cái, Trống-Mái? Và không có loài thứ ba nào khác nũa?( Ái nam ái nữ là trường hợp ngoại lệ). Tại sao sự sinh sản, truyền nòi giống lại theo sự phối hợp của Nam-Nữ? Công việc tạo dựng nên Người Nam, Người Nữ, và phối hiệp họ nên Một Thân Mình, nên Vợ-Chồng, có phải là một kế hoạch, một sáng tạo, và là một công trình tuyệt tác của Thượng Đế không?

Ngày nay, cuộc khủng hoảng Tính Dục chỉ chiếm 5% tổng số các giáo sĩ , tu sĩ, kể từ năm1960-2005, tức chừng 5000 vụ bị tố giác . Nhưng cuộc cách mạng Tính dục , riêng tại Hoa Kỳ đã là nguyên do của 50% những vụ ly dị, hàng triệu vụ phá thai, và thiếu niên chửa hoang,

ĐỂ TẠM KẾT, theo Sách Kinh Thánh mặc khải về Nguồn gốc và Yếu tính của Tính dục của nhân loại, ta hiểu được định nghĩa về con người là một” hữu thể có phái tính”( sexual being), và luôn luôn suy nghĩ hay hành động trong đời sống như một con người “có phái tính”, cho đến chết. Có hai cách hiện thực Tính Dục: một là, lập gia đình, phối hợp với người khác phái tính, trong HÔN PHỐI; hai là, tự nguyện chấp nhận cách thế sống nếp sống độc thân, nhưng không thể triệt tiêu Tính dục, Phái Tính được, chỉ có thề “Tiết dục”. Nhờ ý chí và khả năng hùng mạnh của con người và nhất là nhờ Ơn Chúa giúp, con người có thể “thăng hoa”( sublimation) đời sống Tính dục lên một “Nếp Sống Khiết Tịnh, Độc Thân”, bằng cách thế sống khắc khổ, hy sinh đời sống vị kỉ, để được Tự Do thi hành Đức Bác Ái và Phục vụ Nhân loại một cách quảng đại hơn, theo Gương Thầy Chí Thánh, Đức Mẹ Maria và các Thánh Nhân.

L.M. ĐƯỜNG THI

VIII,Những thách đố của việc đào tạo linh mục Việt Nam hiện nay

(http://lientusiroma.org/nhung-thach-do-cua-viec-dao-tao-linh-muc-tai-viet-nam-hien-nay/)

“Các tín hữu Công Giáo và các linh mục đang phải đương đầu với chủ nghĩa vật chất. Do sự bùng nổ kinh tế của Việt Nam hiện nay, nhiều giáo dân và giáo sĩ có thể kiếm được tiền dễ dàng, điều đó đang làm xói mòn tình yêu của họ đối với Thiên Chúa. Một số linh mục đang sao lãng sứ vụ mục vụ của mình đối với các tín hữu, các giáo xứ và Giáo Hội. Đức tin của họ đang bắt đầu tan vỡ”.

Ngày nay, đối với một số vị mục tử, “những thách đố và khó khăn bên ngoài không nên lo sợ”. Tuy nhiên,”sự tục hóa của các linh mục dẫn đưa họ theo xu hướng vật chất và mất niềm tin. Điều này ảnh hưởng đến thế hệ linh mục trẻ”.

Căn cứ vào tình hình hiện nay, mỗi linh mục có ba nhiệm vụ chính để thực hiện, cụ thể là nên thánh, công bố Lời Chúa cũng như quản lý giáo xứ của họ và thực hiện hoạt động bác ái và xã hội.

IX, Giáo dân mong muốn gì nơi Linh Mục của Giáo hội ? (http://www.hoicaunguyenchocaclinhmuc.comze.com/Giao%20dan%20mong%20muon%20gi.htm)

Cách đây khá lâu, tôi có dịp đọc bài "Giáo dân mong muốn gì nơi các Linh mục". Thấy bài có những nhận xét khá chi tiết, nên xin đăng lại đây (phần in chữ nghiêng trong ngoặc kép) để góp phần xây dựng tốt lành cho các linh mục: "Đa số giáo dân VN rất kính trọng và cảm phục các linh mục, vì ngài có chức thánh, là đấng kitô thứ hai, có quyền cử hành các bí tích, nhất là vì các ngài hi sinh để phục vụ Thiên Chúa và tha nhân.Trong khi họ kính trọng linh mục, thì đương nhiên họ kì vọng rất nhiều nơi linh mục.Với tư cách là một giáo dân, tôi mong muốn linh mục đặc biệt lưu ý những điều sau:
1. Về đời sống siêu nhiên:
Tôi ước mong linh mục luôn thánh thiện, đạo đức, được biểu lộ qua nếp sống khó nghèo, qua thái độ khiêm tốn thực sự, qua sự kiên nhẫn chịu đựng.
2. Về đời sống xã hội:
Đời sống siêu nhiên tốt lành trên đây phải được trải rộng sang đời sống xã hội. Nói cách cụ thể khi tiếp xúc với giáo dân, phải tỏ ra là người Việt nam, dù sống trên đất Mỹ:
- nên kính trọng mọi người, nhất là người lớn tuổi. "Kính lão đắc thọ". Đừng ỷ mình là linh mục mà có những lời bất kính đối với những giáo dân đã trọng tuổi.
- Chỉ nên xưng mình là "cha" với các em nhỏ mà thôi. Tối kị nếu xưng mình là "cha" với các cụ cao niên. Có một linh mục quản nhiệm cộng đoàn, cha độ 32 tuổi, rất tự nhiên xưng mình là cha với cử tọa đa số lớn tuổi, có vị trên 70. Lập tức vị cao niên này phản ứng gay gắt: "Cha hỗn quá. Tuổi của tôi đáng là ông nội của cha. Cha nên thận trọng cách xưng hô. Cha phải hiểu rằng linh mục được gọi là cha, chứ từ ngữ cha không minh nhiên tạo liên hệ giữa cha- và con".
Phải linh động khi khi biến báo xưng hô, thí dụ, khi nói chung tại nhà thờ, nên xưng hô: quí vị và tôi là được. Còn khi nói riêng, phải hết sức cẩn thận, phải lưu ý tuổi và phái tính của người đối thoại. Xưng hô thế nào vừa thân thiện, lịch sự, vừa tránh sự đàm tiếu hoặc phiền trách của giáo dân. Thí dụ: cha 28 tuổi mà xưng với cụ già 80 là anh và tôi thì không lịch sự tí nào. Nhất là gặp cô gái trẻ đẹp mà xưng "anh và em" thì lại càng nguy hiểm.
3. Lắng nghe và phục thiện:
Nên vui vẻ đón nhận những ý kiến xây dựng, bình tĩnh trước những lời chỉ trích, chê bai. Nếu muốn giáo dân nghe mình thì mình cũng phải lắng nghe họ và thực hiện thực hành những đề nghị tốt lành của giáo dân thiện chí. Đừng nổi nóng khi bị chống đối.
4. Hi sinh hết mình, phục vụ tận tâm:
Giáo dân thán phục một linh mục là hình ảnh chủ chăn tuyệt vời. Đối với giáo dân, không nên áp dụng nguyên tắc quá khắt khe và máy móc, cũng đừng giữ giờ quá đáng để trở thành khô khan lãnh đạm.
5. Nêu gương sáng:
Linh mục phải sống những điều mình giảng, và giảng những điều đã sống. Giáo dân không muốn vâng phục một linh mục mà lời nói không đi đôi với việc làm.
6. Tín nhiệm:
Linh mục phải tín nhiệm giáo dân cộng sự, và coi họ là ân nhân của mình. Hễ tỏ ra nghi ngờ họ là làm họ tránh xa, và không ai muốn cộng tác nữa.
7. Công bằng:
Phải xử đối công bằng với mọi người, không thiên vị ai. Không có thái độ trọng người này khinh người kia.
Nên cố gắng cởi mở hòa nhã với bất kỳ ai, không phân biệt giầu nghèo, trí thức hay ít học.
8. Tạo niềm tin:
Hàng ngày linh mục phải trau dồi đức tin và sống niềm tin để nhờ đó, có thể tạo được niềm tin cho giáo dân tiến gần Chúa hơn.
Giáo dân, nhất là giới trẻ, khi gặp linh mục, họ mong ước được linh mục cho họ những kinh nghiệm cá nhân về Chúa. Đức Phaolô VI nói: " Ngày nay người ta không muốn nghe giảng thuyết xuông, nhưng người ta muốn nghe những chứng nhân".
Nếu linh mục chỉ giảng những điều thuộc về Chúa Kitô mà không thực hành thì không thể thấm nhập vào tâm hồn người nghe, lại có thể làm cho người nghe bất mãn và nghi ngờ.
9. Đối với phụ nữ.
Nên hết sức thận trọng và khôn ngoan khi tiếp xúc với phụ nữ, nhất là các thiếu nữ trẻ, đẹp.
Phải thường xuyên suy gẫm trường hợp vua Đavit để nhận ra thân phận yếu đuối của mình để khiêm nhường bám vào Chúa và Đức Mẹ.Nên theo gương một cha già, lúc ngài phải tiếp phụ nữ, ngài tiếp họ tại phòng khách, các cửa sổ mở ra hết và không có màn che.
Được mọi người thương mến là điều đáng quí, nhưng nếu được một số người đẹp đặc biệt cảm tình, lại tặng quà nữa, thì phải coi chừng. Nhất là khi cảm thấy quyến luyến riêng với một bóng hồng nào, thì lập tức phải dừng bước ngay, và tránh không tiếp xúc với người đó nữa dưới bất cứ hình thức nào. Nếu cứ liều lĩnh lần tới, sẽ sa lầy thảm bại.
10. Đối với tiền bạc:
Người ta thường nói:"Tình và tiền đi liền với nhau". Có tình thì phải kiếm tiền để nuôi tình, có tiền thì kiếm tình để tiêu cho bõ. Các vị tu trì cũng như giáo dân đều bị chi phối bởi cái vòng luẩn quẩn oái oăm này. Nên tập thói quen "không tham tiền", vì người tham tiền không thể có tâm hồn bay bổng lên được. Đành rằng tiền bạc cần thiết cho cuộc sống con người, nhưng đừng để tiền bạc làm hoen ố thiên chức linh mục. Đừng tham tiền cũng đừng nói nhiều về tiền.
Giáo dân sẽ rất khó chịu khi thấy linh mục quá nhấn mạnh về tiền bạc.Tuy nhiên, nếu vì công ích mà phải đề cập tới tiền bạc, thì phải can đảm lên tiếng trong sự khéo léo, tế nhị.
11. Trả lời điện thoại và lời nhắn trong máy:
Có hai linh mục hoàn toàn khác nhau: linh mục thứ nhất trả lời mọi người nhắn lại qua điện thoại, không sót một ai, sau khi vắng nhà dù hai hay ba tuần lễ.
Trái lại linh mục thứ hai thì không hề đáp lễ ai cả, mặc dầu người ta để lời nhắn qua điện thoại nhiều lần.
Nên noi gương linh mục thứ nhất, và đừng bao giờ theo lối linh mục thứ hai.
Một giáo dân bỏ Chúa cả 10 năm, tự nhiên được Thánh Thần đánh động, quyết tâm trở về gặp linh mục để xưng tội. Đương sự gọi điện thoại để lấy hẹn, linh mục đi vắng, để tape recording, nhưng linh mục đã không gọi lại giáo dân đó, thế là Chúa mất con chiên lạc. Trách nhiệm về ai?
12. Gọi điện thoại trước khi tới thăm gia đình
Đây là một lối lịch sự. Có gia đình sẽ không mở cửa, vì họ không được gọi trước, nhất là ban tối, hoặc khi họ bận chuyện này chuyện nọ, kể cả khi họ đang coi football theo sở thích của họ...
Đây là những điều cần lưu ý:
I. Thái độ giáo dân đối với linh mục:
1/ Giáo dân khó có thể chấp nhận một linh mục, nếu linh mục:
- Đứng về phe cộng sản hay những tổ chức chống Giáo hội,
- Liên hệ thân mật với các cô gái,
- Sống bê tha thiếu đức trong sạch,
- Tỏ ra ham mê và chạy theo tiền bạc,
- Không giữ lời hứa.
2/ Giáo dân chấp nhận gượng ép một linh mục, nếu linh mục:
- Hay khoe khoang và tự đề cao,
- Hay tìm danh vọng,
- Độc tài, nóng nảy, cố chấp, không phục thiện
3/ Giáo dân dễ chấp nhận một linh mục, nếu linh mục:
- Khiêm nhường, biết lắng nghe,
- Nhẫn nại, chịu đựng,
- Vui vẻ, hòa nhã, chân thành,
- Bình dân, thân thiện,

4/ Giáo dân hết lòng kính trọng một linh mục, nếu linh mục:
- Thực sự đạo đức, thánh thiện,
Chăm chỉ cần mẫn với việc bổn phận,
- Thực hành nếp sống đạo trong đời sống hằng ngày, những điều mình giảng dạy tại nhà thờ.

II. Ảnh hưởng của linh mục trên giáo dân:
- Linh mục thánh thiện- giáo dân tốt lành,
- Linh mục tốt lành- giáo dân khô khan,
- Linh mục khô khan- giáo dân tội lỗi.
X. Giáo dân nghĩ gì về linh mục

(http://www.hoicaunguyenchocaclinhmuc.comze.com/Giao%20dan%20nghi%20gi%20ve%20linh%20muc.htm)
Năm ngoái Đức Thánh Cha công bố Năm cầu nguyện cho Linh Mục. Ban đầu, Tôi cảm thấy băn khoăn sao sao ấy. Phải chăng là vì Ơn Gọi Linh Mục đang bị sa sút, hay chức vụ Linh Mục không thích hợp với lối sống thời nay nữa....Nhất là ít lâu nay, thấy thỉnh thoảng giới truyền thông loan tin không mấy tốt về một số Linh Mục các nơi gặp khủng hoảng gây nên những tệ nạn. Chẳng vui gì ...
Nhưng nghĩ kỹ lại, Tôi thấy, ngoài các Linh Mục đã vướng víu lôi thôi kia, còn biết bao Vị khác sống tốt lành đạo đức và trung thành chứ? Vì thế Tôi xin cùng dâng Chúa lời Tạ Ơn và cầu nguyện cho các Linh Mục, nhất là, Tôi cảm thấy mình cũng nên suy nghĩ chút về đời sống Linh Mục để hiểu và cảm thông với các Ngài hơn.
Đời sống Linh Mục:
So sánh hai xã hội Việt Nam và Úc, Tôi nghĩ ai cũng phải công nhận là đời sống Linh Mục ở hai bên hoàn toàn khác biệt. Ở Việt Nam thì Cha Cụ là trên hết. Ngày chịu chức là ngày Cha được lên hương, lên “hàng khanh tướng”. Mà không chỉ có Cha thôi đâu, cả họ hàng cũng được vinh dự lây. Ai cũng ngưỡng mộ kính trọng, phúc mấy đời để lại, Chúa mới chọn chứ người thường đâu được. Cha là đấng quyền cao chức trọng. Cha làm lễ ban ơn, Cha có quyền tha tội...Cha học cao hiểu rộng biết hết mọi sự.... Rồi thì đời sống hằng ngày sung sướng, Cha được vây bọc với bao nhiêu người, nhà xứ người ra vào, ông trùm bà quản, hội đoàn tấp nập vui nhộn, ăn ở thì có người giúp việc lo lắng. Nói chung là Cha làm gì cũng phải, cũng đúng và cũng được hết, ôi “tu là cõi phúc”. Vaticanô II đã nói lên điểm chính yếu này: “ ..các ngài không thể làm việc Chúa được nếu không là chứng nhân và là người có thể ban phát một đời sống khác với đời sống thế tục; tuy nhiên, các ngài lại cũng không thể phục vụ nhân loại nếu lại sống xa cuộc sống và những hoàn cảnh của con người” (Sắc lệnh về Chức Vụ và Đời sống Linh Mục. Chương I, 3:20)
Những khó khăn của đời sống Linh Mục
Các Ngài cần lời cầu nguyện thật nhiều của mọi người, của giáo dân cũng như của chính các Ngài. Có lẽ các Ngài cũng cần tự mình luôn kiểm thảo đời sống phục vụ của mình xem có phù hợp với đời sống Linh Mục gương mẫu nơi Đức Kitô hay không? Rồi đây, với thân phận con người yếu đuối và mỏng dòn trong cuộc sống, thế nào Linh Mục cũng sẽ gặp những khó khăn, từ bản thân và từ xã hội. Thế nào cũng có lúc gặp phải những cám dỗ làm cho “lý tưởng” của các Ngài bị lu mờ. Như muốn lấy tiếng là người sáng lập hội đoàn mới, phong trào mới mà quên đi việc hướng dẫn con chiên sống chứng nhân Tin Mừng. Như cố xây nhà thờ mới, cung thánh đẹp mà không cần chú ý đến tinh thần đoàn kết xứ đạo, hay đời sống thiếu thốn của dân. Như muốn khoe khoang hay cố đạt một danh hiệu, một biệt tài sáng gía cho những năng khiếu Chúa ban cho mình, hay mong ước để lại kỳ công tuyệt tác cho hậu thế mà hơ hờ với những việc bác ái giúp đỡ tha nhân khốn khó. Xem ra cả những khi tự mãn với những thành qủa đạt được và coi như do công sức riêng mình làm ra cũng kể trong những “phép lạ” này. Và cả khi ganh tị, thích chê bai dèm pha trước những việc làm thành công của người khác nữa. Linh Mục dễ thỏa thích với những vinh danh hão huyền, với những xa hoa vật chất, dễ mê say tận hưởng đời sống sung túc ấm no bề ngoài, dễ vụ lợi cho bản thân và gia đình mà quên đi tha nhân sống khổ chung quanh mình, quên đi sứ mệnh chính là đem yêu thương hạnh phúc đến cho mọi người. Đang khi ở nơi khác Linh Mục dễ cảm thấy sứ mệnh qúa nặng nề, trách nhiệm khó khăn cứng nhắc, đời sống dễ bị cô đơn chán nản. Lâu ngày Linh Mục dễ đi đến chuyện khó sống trung kiên với ơn gọi đời mình, tìm sống an nhàn hơn. Khác với sự chuyển hướng của Linh Mục, Những xấu xa về tình dục đáng trách chính là những hành vi lạm dụng tình dục như đồng tình luyến ái. Hay những việc đáng lên án như xách nhiểu dụ dỗ, ấu dâm...Những hành vi này, hoàn toàn không được phát xuất từ tình yêu Chúa ban cho con người. Đó là do bởi tình trạng bệnh hoạn, là hành động xấu xa, cố ý nhằm thỏa mãn dục vọng trái với tự nhiên, trái với luân lý và đức tin. Người thường không có niềm tin cũng đã đáng xa lánh lên án, huống nữa là một Linh Mục mà mắc phải những tệ trạng xấu xa này. Chính những hành vi này mới làm thiệt hại và mang tiếng xấu cho Hội Thánh Chúa cả vật chất lẫn tinh thần. Đây mới chính là sự sa ngã mà đời Linh Mục có thể sẽ gặp phải khi coi thường không lo cảnh giác với những cám dỗ ở trên kia. Tận hưởng danh vọng, thú vui trần gian, có đầy đủ, có quyền hành và làm được mọi sự theo ý muốn, dễ đưa con người đến chỗ xa đọa và...có ý đồ xấu, thèm khát trái khoáy vụng trộm, dục vọng trong người khó kềm chế.
XI, TRƯỚC HẾT, LINH MỤC PHẢI LÀ CON NGƯỜI


ĐGM. BÙI TUẦN

(http://www.tinmung.net/GIAOHOI/NamLinhMuc/linhmucphailaconnguoibuiTuan.htm)

Khi nhìn vào con người linh mục của tôi, tôi nghe thấy biết bao tiếng gọi “hãy là” như:

Hãy là linh mục của Thiên Chúa tình yêu, sống đúng thân phận người con hiếu thảo của Thiên Chúa là Cha giàu lòng thương xót.

Hãy là linh mục của Hội Thánh Đức Kitô dấn thân cho Tin Mừng cứu độ.

Hãy là linh mục của Công đồng Vatican II, biết có một cái nhìn đúng đắn mới mẻ về Hội Thánh trong tương quan với thế giới hôm nay.

Hãy là linh mục của thế giới thứ ba, nơi mà đức tin không được phép tách rời khỏi cuộc sống đang trên đà phát triển giữa nhiều phức tạp.

Hãy là linh mục của nền văn hóa Á Châu, một thứ văn hóa vừa nặng yếu tố lý trí, vừa giàu yếu tố tâm linh.

Hãy là linh mục của nước Việt Nam độc lập, biết có một bản lĩnh hợp lý trong các tương quan quốc tế.

Hãy là linh mục của địa phương tôi, nơi có nhiều tôn giáo nổi về công việc từ thiện, tinh thần dân tộc và tình hiểu thảo đối với tổ tiên.

Hãy là linh mục của cuối thế kỷ 20, một thời đại đang có nhiều chuyển biến lớn lao và mau lẹ về kinh tế, khoa học, xã hội, văn hóa và tôn giáo, đòi hỏi một tân phúc âm hóa thích hợp.

Chỉ bằng ấy tiếng gọi thôi cũng đủ khiến tôi cảm thấy mình rất mực là nghèo. Phải học thêm, phải tìm tòi thêm, phải làm việc thêm.

Tiếng gọi nào cũng khẩn cấp cả. Nhưng giữa nhưng khẩn cấp ấy, tôi nghe một tiếng gọi nhỏ nhẹ mà rất thiết tha, rất khẩn cấp: “Trước tiên, hãy là con người”.

Đúng là như vậy. Phải là con người xứng danh con người đã. Phải học làm người với những đức tính làm người đã: Nhân ái, nhân bản, nhân cách, nhân đạo, nhân phẩm, nhân hậu, nhân nghĩa, nhân tâm, nhân trí, nhân văn...

Đừng tưởng đã là linh mục thì việc phục vụ sẽ hữu hiệu bằng chức năng linh mục, không cần đến các điều kiện con người. Không đâu. Sẽ đến thời tục quyền, tục hóa lan rộng như hiện nay trên các nước Thiên Chúa giáo tại Châu Âu. Sẽ đến thời có nhiều tôn giáo mạnh. Lúc đó người ta sẽ ít để ý đến chức này quyền nọ, mặc dù theo chúng ta đó là chức thánh và thần quyền. Lúc đó người ta sẽ không mấy quan tâm đến niềm tin tôn giáo của đạo chúng ta. Nhưng lúc đó, người ta sẽ nhìn linh mục và đánh giá linh mục nhiều hơn theo các giá trị nhân bản.

Ngài là người thế nào? Có thái độ nào trong các tương quan giữa người với người? Có hiền lành và khiêm tốn không? Thiện chí phục vụ, khả năng phục vụ và cách phục vụ thế nào đối với đồng bào, với người dưới, người trên, người nghèo khổ, người bệnh tật, người bị bỏ rơi? Khả năng nhạy bén, nắm bắt tình hình có sâu sắc không? Khả năng ứng xử với các bất ngờ có đủ sáng suốt không? Khả năng phấn đấu với chính mình và với các khuynh hướng xấu có kiên cường và khôn ngoan không? Cách đi đứng, cách nói năng, cách ăn uống có tế nhị, tự trọng, lịch sự, xứng với một trình độ văn hóa có thể chấp nhận được không? Có lương thiện trong các phán đoán không? Có tế nhị, khiêm tốn trong những cái nhìn về các giá trị mới mà mình chưa quen, chưa hiểu không?...

Nói chung, hãy sống cho ra người với mức độ cao nhất của tính người, mà mình có thể vươn tới được. Rồi từ đó sẽ xây dựng lên tòa nhà thánh thiện với các nhân đức siêu nhiên.

Với những kinh nghiệm bản thân, tôi đọc lại những giáo huấn của Tòa Thánh về vấn đề giáo dục nhân bản nơi người linh mục. Thiết tưởng sự nhắc lại và thực thi những giáo huấn này là rất cần thiết tại Việt Nam hôm nay.

XII, Một thoáng suy tư về nạn ''sách nhiễu tình dục trẻ em'' của một số linh mục ở Mỹ

Lm Phanxicô Xaviê Ngô Tôn Huấn

(http://www.kinhthanhvn.org/viewItem.jhtml?itemId=2938)

Kính gửi quý độc giả một vài suy tư của Lm PX Ngô Tôn Huấn về vấn đề nóng bỏng hiện nay.

Khi tôi viết bài này thì truyền thông của các nước Anh, Pháp, Ý, Đức và Hoa kỳ đang cố thổi phồng vụ một linh mục Đức đã “lạm dụng tình dục một số trể em” tại Tổng Giáo Phận Munich khi Đức đương kim Giáo Hoàng Benedict XVI còn là Tổng Giám mục của Giáo Phận này cách nay đã trên 30 năm. Họ cố thổi phồng chuyện này với ác ý bôi nhọ (smear) Đức Thánh Cha và Giáo Hội Công Giáo hoàn vũ. Tờ Nữu Ước Thời Báo (New York Times) cũng phụ họa khi cho rằng Đức Thánh Cha, khi đó là Tổng Giám Mục Munich đã “bao che” (cover up) vụ này.

Đây không phải là lần đầu tiên truyền thông thế giới nói chung và truyền thông Hoa Kỳ (CNN) nói riêng đã khai thác với ác ý chuyện “bê bối và tai tiếng của một số nhỏ linh mục Công giáo”. Cách nay 10 năm, chuyện không may này đã nổ ra lần đầu tiên ở Hoa Kỳ khi một linh mục thuộc Tổng Giáo Phận Boston đã bị tố cáo tội “lạm dụng tình dục nhiều trẻ em” trong các giáo xứ mà linh mục này làm mục vụ.

Kết quả bi thảm của vụ này là Đức Hồng Y Bernard Law, Tổng Giám Mục Boston đã phải xin từ chức và được thuyên chuyển về Roma làm việc.

Và cũng vì hậu quả của những tố giác liên quan đến các linh mục “đã lạm dụng tình dục trẻ em” mà Tổng Giáo Phận Los Angeles (California) và Địa Phận Dallas (Texas) đã phải chi hàng trăm triệu dollar để bồi thường cho các nạn nhân. Nhiều Giáo Phận khác cũng đã phải chi rất nhiều tiền bồi thường về những tố giác tương tự.

Về phía Giáo Quyền, Hội Đồng Giám Mục Mỹ họp tại Dallas tháng 6 năm 2002 đã thông qua một biện pháp kỷ luật rất khắt khe dành cho các giáo sĩ (linh mục, phó tế) bị tố cáo đã lạm dụng tình dục trẻ em (sexual abuses of minors = pedophile). Biện pháp này được gọi là “không một chút nhân nhượng = Zero tolerance” đối với những linh mục nào có lỗi. Nghĩa là từ nay, giáo quyền liên hệ sẽ thẳng tay trừng phạt bằng cách ngưng chức (suspend) các linh mục bị tố cáo có hành vi bất chánh với trẻ em và thông báo nội vụ cho cảnh sát địa phương để xử lý theo luật pháp xã hội. Đồng thời cũng xúc tiến thủ tục cho hồi tục (defroke) các linh mục phạm tội nói trên.

Chúng ta nghĩ gì về thực trạng đáng buồn này của Giáo Hội nói chung?

Trước hết chúng ta cần phân biệt ranh giới của hai sự kiện sau đây:

1- Sự suy thoái đạo đức của hàng giáo sĩ, tu sĩ (moral deterioration or depravity).

2- Tình trạng bất bình thường hay bệnh hoạn về tâm sinh lý (mental and sexual abnormity) của con người nói chung ở khắp mọi nơi trên thế giới trong đó có các giáo sĩ, tu sĩ của mọi tôn giáo.

Nếu là suy thoái đạo đức của hàng giáo sĩ và tu sĩ (clergy and religious) thì đây mới là vấn đề nghiêm trọng đặt ra cho Giáo Quyền khắp nơi phải suy nghĩ và mau chóng có biện pháp tích cực. Cụ thể nếu một linh mục Dòng hay Triều mà lỗi lời khấn độc thân (celibacy) và khiết tịnh (chastity) để lén lút có vợ con, như trường hợp công khai của một linh mục bên Việt Nam, thì đây chính là sự suy thoái đạo đức và lỗi lời cam kết của người đó khi chịu chức thánh. Và Giáo Quyền liên hệ phải có biện pháp chấn chỉnh để làm gương cho người khác cũng như để bảo vệ kỷ luật của Giáo Hội.

Ngược lại, khi một linh mục hay tu sĩ nào “lạm dụng tình dục với trẻ em” (sexual abuse of minors = pedophile) hay với người cùng phái tính (same sex) thì đây phải được xem là tình trạng “bất bình thường hay bệnh hoạn về tâm sinh lý” của những người có khuynh hướng “khác thường” này. Do đó, mọi phán đoán và phê bình những người này phải hoàn toàn khác với suy nghĩ và phán đoán dành cho những người bình thường mà có những lối sống hay hành động “suy thoái đạo đức” như lén lút có quan hệ phái tính với phụ nữ, hoặc công khai có vợ con như một linh mục kia.

Thật vậy, mọi giáo sĩ hay tu sĩ đều được mong đợi sống và thực thi những gì mình đã long trọng cam kết hay khấn hứa khi lãnh nhận chức thánh hoặc khấn trọn (perpetual vows) trong một Dòng tu hay Tu Hội. Đó là vâng phục và độc thân (celibacy) đối với giáo sĩ (linh mục, giám mục) khó nghèo, khiết tịnh (chastity) và vâng phục đồi với tu sĩ (religious). Như vậy ai lỗi những lời cam kết hay khấn hứa này là lỗi kỷ luật của hàng giáo sĩ hay tu sĩ và làm gương mù cho người khác cũng như gây thương tổn nặng nề cho uy tín và đạo đức của hàng giáo sĩ và tu sĩ.

Tuy nhiên, nói thế không có nghĩa những ai rơi vào một trong hai hoàn cảnh trên đều đáng “bị ném đá” đúng theo cung cách hành xử của nhóm người Biệt phái thời Chúa Giêsu xưa. Ngày nay, Nhóm Tân biệt phái này đã và đang núp bóng sau bình phong truyền thông đại chúng (mass media = báo chí, TV, Radio Internet…) ở Âu châu và Mỹ (CNN) để hô hào quần chúng ném đá không những người có lỗi mà cả những người có liên đới trách nhiệm tinh thần như các Giám mục, Hồng Y và ngay cả Đức Thánh Cha mà tờ Nữu Ước Thời báo (New York Times) đã công khai qui trách nhiệm cho ngài trong tháng qua!

Đây chắc chắn là một âm mưu rất thâm độc nhằm đánh phá Giáo Hội Công Giáo của những kẻ vẫn thù ghét Giáo Hội từ xưa đến nay vì nhiều lý do. Họ thù ghét vì lập trường cứng rắn của Giáo Hội liên quan đến những vấn đề không thể nhượng bộ được như ly dị, phá thai, hôn nhân đồng tính (same sex marriage) và cho phụ nữ làm linh mục. Họ thù ghét vì Giáo Hội lên án “văn hóa sự chết” mà thế giới ngày nay đang ngụp lặn trong đó. Đặc biệt, Giáo Hội Công Giáo còn bị coi là kẻ thù nguy hiểm nhất của chủ thuyết vô thần và những kẻ thờ Satan (Satan worshippers) ở Mỹ và ở khắp nơi trên thế giới. Nhưng truyền thông không hề quan tâm và dám lên tiếng chỉ trích những “thể lực ma quỷ” này, cũng như không chiếu cố tương tự đến những vụ “sách nhiễu tình dục trẻ em ở các giáo phái khác hoặc ở các trường công tư trên toàn Hoa Kỳ”. Họ chỉ chú trọng khai thác chuyện đáng buồn này của một số rất nhỏ linh mục Công giáo mà thôi. Sở dĩ thế vì họ thành kiến với Giáo Hội Công Giáo và muốn lợi dụng “chuyện tai tiếng” này để bôi nhọ Giáo Hội trong khi họ im hơi lặng tiếng về nhiều tội trạng đầy rẫy trong xã hội Hoa Kỳ. Cụ thể những mánh khóe gian manh, ham nhũng của các nhóm tài phiệt, những kẻ cầm đầu tập đoàn “Wall Street” ở New York đã và đang thao túng thị trường tài chính Hoa kỳ khiến dẫn đến thảm trạng kinh tể suy thoái hiện nay. Họ cũng câm điếc trước nạn diệt chủng (genocide) ở Dartfur, Soudan, cũng như bịt tai nhắm mắt trước tệ trạng “hôn nhân đồng tính” (same sex marriage) đang được công khai cho hợp thức hóa ở một số Tiểu bang Hoa Kỳ.

Đây có phải là lối sống phù hợp với luân lý đạo đức và văn hóa của các dân tộc trên thế giới không? Chúng ta không lên án những cặp hôn nhân đồng tính này, nhưng lối sống của họ có “bình thường” không và có phù hợp với mục đích hôn nhân mà mọi xã hội văn minh con người đã tôn trọng từ xưa đến nay??? Vậy tại sao truyền thông Mỹ không dám lên tiếng về việc một số Tiểu bang đã cho hợp thức hóa “hiện tượng bất bình thường” này cũng như giả câm giả điếc trước tội lớn lao nhất của xã hội này: Đó là tội cho phép phá thai để công khai hợp pháp hợp hiến giết hàng triệu thai nhi mỗi năm ở Mỹ. Thật là mỉa mai khi một quốc gia có đa số người theo Kitô giáo như Hoa Kỳ (Công giáo và Tin lành) mà lại phản Kitô giáo cách nặng nề khi cho phép giết thai nhi – tức giết người – cách dã man như vậy; cũng như dung dưỡng cho kỹ nghệ khiêu dâm (pornography) và phim ảnh bạo động (violent movies) mặc sức tung hoành trên Internet, DVD và sách báo để xô đẩy biết bao người lớn và thanh thiếu niên vào vực thẳm sa đọa và tội ác. Tệ hại hơn nữa của xã hội này là đã dạy học sinh trung học cách “làm tình” khi đưa vào học đường chương trình giáo dục phái tính (sex education) và phát condoms cho học sinh nam nữ!

Đây mới là những tai hại, tội lỗi và nguy hiểm lớn lao không những cho trẻ em mà còn cho mọi người lớn sinh sống trên đất nước này. Tội ác gây ra bởi những nguyên nhân nói trên còn to lớn gấp bội so với hậu quả “làm hại trẻ em” của một thiểu số rất nhỏ linh mục. Vậy tại sao chỉ quan tâm và làm lớn chuyện “tội ác = crime” của một số linh mục này mà không mảy may quan tâm đến những tội ác lớn lao kia của xã hội này?

Riêng về tội “làm hại trẻ em” thì thử hỏi trong hàng chục ngàn giáo phái khác đang hoạt động ở Hoa Kỳ, hoặc ở các trường công tư trên toàn quốc, có xảy ra chuyện tai tiếng này không, hay chỉ có trong Giáo Hội Công Giáo? Ai dám nói là không ở đâu có cũng như không có ai phạm tội này trừ mấy linh mục công giáo?

Như vậy thật là bất công và đầy ác ý khi người ta chỉ chĩa mũi dùi vào Giáo Hội Công Giáo để bêu xấu (smear) và tống tiền (blackmail). Phải nói là tống tiền vì có những vụ mà “nạn nhân” toa rập với luật sư để đòi bồi thường lên đến hàng trăm triệu Mỹ kim khiến một số Địa phận đã phải nghĩ đến chuyện khai “phá sản = bankruptcy” vì không có đủ tiền để trả theo đòi hỏi của họ.

Đây thật quả là một tai nạn không may cho Giáo Hội Hoa Kỳ cách riêng trong mấy năm qua. Không may vì các Giám mục Mỹ đã không ngờ hậu quả của “vụ tai tiếng” này lại trầm trọng đến thế. Vì nếu biết thì các ngài chắc đã phải có những biện pháp thích đáng hơn để những kẻ muốn lợi dụng sơ hở này không thể kết tội các Giám mục là đã “bao che” (cover up) để các “giáo sĩ bệnh hoạn” kia tiếp tục làm hại thêm cho trẻ em. Chính vì không ngờ, nên ở nơi nào có xảy ra “chuyện bê bối” này thì Giám mục liên hệ chỉ thuyên chuyển các linh mục có lỗi đến một giáo xứ khác thay vì ngưng chức (suspend) họ và bồi thương ngay cho nạn nhân. Đây là sơ hở đáng tiếc của các Giám mục, khiến cho những kẻ muốn bêu xấu và làm tiền Giáo Hôi được thể tố cáo các giám mục là thiếu trách nhiệm. Phải nói là thiếu thận trọng và đề phòng thì đúng hơn. Cũng vì không ngờ nên nói theo ngạn ngữ Việt Nam, “mất của rồi mới rào giậu”, các Giám mục Mỹ đã trở nên quá khắt khe, đến mức nói được là “thiếu cảm thương” (lack of compassion) đối với các linh mục “lâm nạn” khi các ngài quyết định biện pháp “không chút nhân nhượng = zero tolerance” để tức khắc “ngưng chức” (suspend) bất cứ linh mục nào bị tố có hành động sai trái đối với trẻ em. Ngưng chức chưa đủ. Các ngài còn trao nội vụ cho cảnh sát xử lý, đồng thời cũng xúc tiến thủ tục cho “hồi tục = defroke”các bị cáo đã thực sự phạm tội nữa !

Tại sao chúng ta biết cảm thương đối với các nạn nhân mà không chút cảm thương đối với các bị cáo bệnh hoạn về tâm sinh lý này? Tại sao phải cắn răng bỏ ra hàng trăm triệu để bồi thường cho các nạn nhân mà không chút thương xót những linh mục “thân bại danh liệt” trót mang bệnh “tâm sinh lý” mà phạm tội để nay bị loại ra khỏi hàng ngũ giáo sĩ và tủi nhục trước công luận?

Đồng ý là việc “lạm dụng tính dục trẻ em” là một tội phạm và tai tiếng rất lớn cần phải được quan tâm đúng mức và sửa chữa kịp thời.

Nhưng cũng xin đừng quá “khiếp sợ” những kẻ muốn đánh phá Giáo Hội núp bóng trong truyền thông mà đổ lỗi quanh cho nhau để rồi chỉ biết đấm ngực xin lỗi và bồi thường cho nạn nhân nhưng lại vô cảm đối với những bị cáo chẳng may sa chân vào hố thân bại danh liệt này.

XII, http://conggiao.info/news/2626/22119/sau-khi-giai-nhiem-vi-giam-muc-xa-hoa-dieu-gi-se-xay-ra-tiep-theo.aspx

Sau khi giải nhiệm 'vị Giám mục xa hoa', điều gì sẽ xảy ra tiếp theo? 4/1/2014 9:34:18 AM Làn sóng giải nhiệm các giám mục không chắc xảy ra

Tin Đức Giáo Hoàng Phanxicô sa thải hay “chấp nhận sự từ chức” của vị giám mục Giáo Hội nước Đức, được gọi là “Giám mục xa hoa” vì cách chi tiêu mạnh, đã làm cho nhiều người Công giáo nghĩ rằng nhiều cuộc giải nhiệm khác có thể xảy ra.

Đây là câu trả lời: Có lẽ như thế, nhưng có lẽ không.

Lịch sử gần đây cho thấy lý do tại sao: Giám mục Robert Finn của thành phố Kansas, bang Missouri, vẫn còn trong nhiệm kỳ 18 tháng sau khi bị tuyên án và đã chi 1.4 triệu USD bảo lãnh cho mình – vì không báo cáo về một linh mục bị nghi ngờ lạm dụng. Hồng y Roger Mahony, Los Angeles, hưởng chế độ hưu trí cao cấp mặc dù bác bỏ bản báo cáo lạm dụng của vị kế nhiệm mình. Tương tự vậy, Hồng y Bernard Law, cựu Giám mục Boston, vẫn sống cuộc sống giàu sang ở Rôma nhiều năm sau khi bị bắt ở Mỹ trong vụ bê bối lạm dụng.

Chưa kể đến Tổng Giám mục John Myers của Newark, New Jersey, người đứng đầu giáo phận đang có những vấn đề về những trường hợp lạm dụng cũng như chi số tiền lớn dành cho nhà nghỉ hưu cao cấp của mình.

Xét về mặt tài chính mà nói, “Giám mục xa hoa”, Franz -Peter Tebartz – van Elst của Limburg, Đức, là “không ai bằng”: Ông đã chi tiêu số tiền 43 triệu USD cho một khu cư trú mới sang trọng và tổ hợp văn phòng trong khi cắt giảm nhân viên.

Sau khi tin tức về các khoản chi phí bị lộ vào tháng Chín năm ngoái, Giám mục Tebartz – van Elst được đưa đến một tu viện và Đức Thánh Cha Phanxicô gửi một sứ thần đến tìm hiểu điều gì đã xảy ra. Vào thứ Tư (ngày 26 tháng 3), Đức Phanxicô đã chính thức chấp nhận đơn từ chức của vị giám mục này, đây là điều Vatican đã đề nghị vào tháng Mười năm ngoái.

Vậy đây có phải là một khởi đầu cho một điều gì mới mẻ chăng? Điều đó có thể, vì ba lý do:

“Giám mục xa hoa” là một khởi đầu

Không chỉ Tebartz – van Elst đã chi tiêu một tấn tiền về tất cả những điều sai trái, nhưng ông đã làm như vậy ngay sau khi các vị hồng y bầu một vị giáo hoàng, người đang “thắt lưng buộc bụng” và khiêm nhường. Đức Thánh Cha Phanxicô muốn các giám mục phải “có mùi giống như cừu,” không xa hoa, và ngài không muốn họ hành động một cách độc đoán và tùy tiện mà Tebartz – van Elst đã cho thấy.

Trong thực tế, khi việc từ chức của Tebartz – van Elst được công bố vào thứ Tư, Đức Thánh Cha đang nói với hàng ngàn người tại quảng trường Thánh Phêrô rằng “một giám mục mà không phục vụ cộng đoàn thì sẽ làm điều không tốt.”

Ngoài ra, vào cuối tháng Mười Một vừa qua, Tebartz – van Elst đã trả tiền phạt theo lệnh của tòa gần 30.000 USD để tránh một khoản phí khai man là ông đã không bay chuyến bay hạng nhất tới Ấn Độ trong một chuyến đi từ thiện.

Không có tiến trình để sa thải một giám mục

Điều đó có vẻ kỳ lạ, nhưng Vatican không thể phế quyền hoặc giải nhiệm một giám mục theo cách thức mà Vatican có thể và thường làm với một linh mục. Tuyên bố của Vatican về trường hợp Tebartz – van Elst biện minh cho việc từ nhiệm của ông bằng cách nói rằng tình trạng của ông “cản trở việc thi hành hiệu quả tác vụ của mình.”

Nghe có vẻ mơ hồ, đó là bởi vì nó như thế. Trong những năm gần đây, các vị giáo hoàng khác nhau đã giải nhiệm hoặc buộc từ nhiệm nhiều giám mục, vì các lý do như: những việc ám muội về tài chính, nhận thức bất đồng chính kiến ​​với giáo huấn của Giáo Hội hay những tiết lộ cho biết họ là cha của một hoặc hai người con, như đã xảy ra với Giám mục phụ tá Gabino Zavala ở Los Angeles năm 2012.

Nhưng những lý do thực sự đằng sau việc giải nhiệm thường là phỏng đoán vì quá trình này là bí mật, ngay cả đối với những người đang bị điều tra. Thông thường, trong thực tế không có tiến trình nào cả – Vatican chỉ làm việc đằng sau hậu trường để gây sức ép một giám mục từ chức một cách âm thầm, và sau đó quên đi toàn bộ câu chuyện.

“Các giám mục là những người kế vị các tông đồ và là Đại diện của Chúa Kitô trong giáo phận của mình, nhưng theo Giáo Luật, họ có ít quyền hơn các linh mục xứ,” các biên tập viên của tờ The Tablet, một tuần báo Công giáo trụ sở tại London, cho biết trong một bài xã luận năm 2013 kêu gọi một hệ thống minh bạch và công bằng để giải nhiệm các giám mục.

Việc quản trị yếu kém không phải là tội để sa thải

Nếu có, rất khó khăn để tìm giám mục như thế trong các giáo phận. Thay vào đó, Giáo Luật thường đòi hỏi giám mục đã làm một điều gì đó rõ ràng là sai trái, chẳng hạn như ăn cắp hoặc lạm dụng cho bản thân mình – điều đó có thể dẫn đến “mất chức”.

Như Edward Peters, một blogger và luật sư Giáo luật, đã nói, “hành vi phạm tội không phải là điều tương tự như ‘việc quản lý yếu kém,’ và chắc chắn nó không phải là điều tương tự như ‘việc thi hành yếu kém.’ Làm một công việc xấu có thể biện minh cho việc sa thải một người cấp dưới,” Peters viết khi nối kết với việc từ chức của một giám mục Châu Phi năm 2011, nhưng không làm nên những căn cứ để sa thải một thành viên thuộc phẩm trật.

Nó có giá trị lưu ý rằng các giám mục và hồng y bị thất sủng hiếm khi bị mất chức hoặc bị giải nhiệm. Trường hợp đơn cử là: Mahony, và Hồng y Keith O’Brien của Scotland, người đã bị giải nhiệm trong một vụ bê bối tình dục trước mật nghị Hồng y năm ngoái. Thay vì, họ được cho biết tiếp tục tại vị sự dám sát hoặc được chuyển đến một nơi ít bị chú ý.

Trong thực tế, Tebartz – van Elst, người bị giải nhiệm bất chấp sự hỗ trợ của nhiều người ủng hộ mạnh mẽ, vẫn còn là một giám mục, và Tòa thánh Vatican nói rằng “giám mục bị giải nhiệm… sẽ được trao cho một công việc khác vào một thời điểm thích hợp.”

XIV: Trang nhà Philocquetoi.com

Nếu đọc qua những bài viết trên, chắc hẳn không những người ngoài cuộc giật mình mà ngay cả những người trong cuộc cũng cảm thấy khó chấp nhận. Tuy nhiên ở đây chúng tôi chỉ muốn đưa ra những bài viết để rồi từ đó tất cả mọi người có cái nhìn đúng và tìm ra hướng đi mới. “Hội Thánh Chúa thì luôn đứng vững dù ma quỷ cũng không phá được”, vì vậy tất cả chúng ta trước hết là cám ơn Chúa đã thương hết tất cả nhân loại. Chúa cho mưa ơn lành xuống cho tất cả mọi loài, điều quan trọng là chúng ta đón nhận như thế nào. Tất cả chúng ta đều là một chi thể của Chúa và không ai quan trọng hơn ai, vì cái nào cũng có tác dụng của nó. Vậy nên nếu ai đó phạm tội (dù là Đức giáo hoàng,giám mục...) thì cũng chỉ là cá nhân đó phải đối diện với Chúa và trả lời câu hỏi của Chúa dành cho riêng mỗi người. Chúng ta không thần tượng các “Bề trên” quá để rồi thất vọng,chúng ta cũng không nên khinh thường vì như thế sẻ làm tâm hồn chúng ta nên chai đá và kiêu ngạo. Chúng ta hãy cầu nguyện cho các ngài luôn khiêm nhường phục vụ,hiền lành và thanh sạch để những người lương dân nhìn vào đó mà bước theo Chúa. Nếu có một số thành phần không sống như lòng chúng ta mong muốn thì cũng nên tiếp tục cầu nguyện và nói thẳng ra để như Chúa nói “Khốn cho các ngươi, thầy thông giáo và người Pha-ri-si, là kẻ Giả Hình! vì các ngươi đi khắp dưới nước trên bộ để khuyên một người vào đạo mình; và khi đã khuyên được rồi, thì các ngươi làm cho họ trở nên người địa ngục gấp hai các ngươi”.Matthew 23:15 “ Woe to you, teachers of the law and Pharisees, you hypocrites! You travel over land and sea to win a single convert, and when you have succeeded, you make them twice as much a child of hell as you are”. Lạy Chúa, xin Ngài thương hết tất cả chúng con. Tất cả chúng ta không phân biệt tôn giáo, đảng phái, sắc tộc hãy cùng nhau xây dựng một đất nước Việt Nam thân yêu, đoàn kết, no ấm và hạnh phúc.

PV.