Gia đình là gì?

[ Điểm đánh giá5/5 ]1 người đã bình chọn
Đã xem: 13042 | Cật nhập lần cuối: 7/18/2017 10:06:29 PM | RSS

Gia đình là một cộng đồng người sống chung và gắn bó với nhau bởi các mối quan hệ tình cảm, quan hệ hôn nhân, quan hệ huyết thống,  quan hệ nuôi dưỡng và hoặc quan hệ giáo dục. Gia đình có lịch sử từ rất sớm và đã trải qua một quá trình phát triển lâu dài. Thực tế, gia đình có những ảnh hưởng và những tác động mạnh mẽ đến xã hội.

Khái niệm Gia đình

Ngay từ thời nguyên thủy cho tới hiện nay, không phụ thuộc vào cách kiếm sống, gia đình luôn tồn tại và là nơi để đáp ứng những nhu cầu cơ bản cho các thành viên trong gia đình. Song để đưa ra được một cách xác định phù hợp với khái niệm gia đình, một số nhà nghiên cứu xã hội học đã đưa ra sự so sánh giữa gia đình loài người với cuộc sống lứa đôi của động vật, gia đình loài người luôn luôn bị ràng buộc theo các điều kiện văn hóa xã hội của đời sống gia đình ở con người. Gia đình ở loài người luôn bị ràng buộc bởi các quy định, các chuẩn mực giá trị, sự kiểm tra và sự tác động của xã hội; vì thế theo các nhà xã hội học, thuật ngữ gia đình chỉ nên dùng để nói về gia đình loài người.

Thực tế, gia đình là một khái niệm phức hợp bao gồm các yếu tố sinh học, tâm lý, văn hóa, kinh tế,... khiến cho nó không giống với bất kỳ một nhóm xã hội nào. Từ mỗi một góc độ nghiên cứu hay mỗi một khoa học khi xem xét về gia đình đều có thể đưa ra một khái niệm gia đình cụ thể, phù hợp với nội dung nghiên cứu phù hợp và chỉ có như vậy mới có cách tiếp cận phù hợp đến với gia đình.

Đối với xã hội học, gia đình thuộc về phạm trù cộng đồng xã hội. Vì vậy, có thể xem xét gia đình như một nhóm xã hội nhỏ, đồng thời như một thiết chế xã hội mà có vai trò đặc biệt quan trọng trong quá trình xã hội hóa con người. Gia đình là một thiết chế xã hội đặc thù, một nhóm xã hội nhỏ mà các thành viên của nó gắn bó với nhau bởi quan hệ hôn nhân, quan hệ huyết thống hoặc quan hệ con nuôi, bởi tính cộng đồng về sinh hoạt, trách nhiệm đạo đức với nhau nhằm đáp ứng những nhu cầu riêng của mỗi thành viên cũng như để thực hiện tính tất yếu của xã hội về tái sản xuất con người

Phân loại

Gia đình là gì?
Gia đình là gì?
Một đại gia đình ở Hoa Kỳ

Có nhiều cơ sở để phân loại gia đình thành các loại khác nhau.

Xét về qui mô, gia đình có thể phân loại thành:

  • Gia đình hai thế hệ (hay gia đình hạt nhân): là gia đình bao gồm cha mẹ và con.
  • Gia đình ba thế hệ (hay gia đình truyền thống): là gia đình bao gồm ông bà, cha mẹ và con còn được gọi là tam đại đồng đường
  • Gia đình bốn thế hệ trở lên: là gia đình nhiều hơn ba thế hệ. Gia đình bốn thế hệ còn gọi là tứ đại đồng đường.

Dưới khía cạnh xã hội học và về quy mô các thế hệ trong gia đình, cũng có thể phân chia gia đình thành hai loại:

  • Gia đình lớn (gia đình ba thế hệ hoặc gia đình mở rộng) thường được coi là gia đình truyền thống liên quan tới dạng gia đình trong quá khứ. Đó là một nhóm người ruột thịt của một vài thế hệ sống chung với nhau dưới một mái nhà, thường từ ba thệ hệ trở lên, tất nhiên trong phạm vi của nó còn có cả những người ruột thịt từ tuyến phụ. Dạng cổ điển của gia đình lớn là gia đình trưởng lớn, có đặc tính tổ chức chặt chẽ. Nó liên kết ít nhất là vài gia đình nhỏ và những người lẻ loi. Các thành viên trong gia đình được xếp đặt trật tự theo ý muốn của người lãnh đạo gia đình mà thường là người đàn ông cao tuổi nhất trong gia đình. Ngày nay, gia đình lớn thường gồm cặp vợ chồng, con cái của họ và bố mẹ của họ nữa. Trong gia đình này, quyền hành không ở trong tay của người lớn tuổi nhất.
  • Gia đình nhỏ (gia đình hai thế hệ hoặc gia đình hạt nhân) là nhóm người thể hiện mối quan hệ của chồng và vợ với các con, hay cũng là mối quan hệ của một người vợ hoặc một người chồng với các con. Do vậy, cũng có thể có gia đình nhỏ đầy đủ và gia đình nhỏ không đầy đủ. Gia đình nhỏ đầy đủ là loại gia đình chứa trong nó đầy đủ các mối quan hệ (chồng, vợ, các con); ngược lại, gia đình nhỏ không đầy đủ là loại gia đình trong nó không đầy đủ các mối quan hệ đó, nghĩa là trong đó chỉ tồn tại quan hệ của chỉ người vợ với người chồng hoặc chỉ của người bố hoặc người mẹ với các con. Gia đình nhỏ là dạng gia đình đặc biệt quan trọng trong đời sống gia đình. Nó là kiểu gia đình của tương lai và ngày càng phổ biến trong xã hội hiện đại và công nghiệp phát triển.

Kế hoạch hóa gia đình

Ở các nước đang phát triển, vì tỉ lệ sinh cao làm dân số tăng cao, chính phủ thực hiện các chính sách để người dân giảm số con trong gia đình. Ở Trung Quốc, chính sách một con làm giảm đáng kể tốc độ tăng dân số của nước này. Ở Việt Nam, chính quyền khuyến khích mỗi gia đình chỉ nên có một đến hai con. Trong khi đó, ở nhiều nước phát triển như nhiều nước châu ÂuHàn Quốc, Nhật Bản, chính phủ có biện pháp khuyến khích gia đình có thêm con nhằm tránh giảm dân số.

Chức năng cơ bản

  1. Tái tạo ra một thế hệ mới bao gồm cả việc sinh đẻ và giáo dục đào tạo:
    • Chức năng sinh sản - tái sản xuất ra con người về mặt sinh và hoặc về mặt xã hội;
    • Chức năng giáo dục của gia đình.
  2. Nuôi dưỡng, chăm sóc các thành viên trong gia đình:
    • Chức năng kinh tế và tổ chức đời sống gia đình;
    • Chức năng thoả mãn những nhu cầu tâm - sinh lý tình cảm.

Hai chức năng cơ bản này chi phối toàn bộ các chức năng khác của gia đình như:

  • Chức năng kinh tế;
  • Chức năng giao tiếp tinh thần;
  • Chức năng tổ chức thời gian rỗi;
  • Chức năng thu nhận các phương tiện;
  • Chức năng giáo dục bảo trợ;
  • Chức năng đại diện;
  • Chức năng tình dục;
  • Chức năng nghỉ ngơi, giải trí;
  • V.v... 

Gia đình Việt Nam

Theo phong tục tập quán người Việt, các thành viên trong gia đình thường về tụ hội đông đủ vào dịp Tết Nguyên Đán hằng năm. Ngoài ra các dịp đám cưới, đám tang, đám giỗ cũng là dịp để các thành viên trong gia đình tập hợp lại.Gia đình Việt Nam có đặc điểm là nhiều thế hệ sống chung trong cùng một mái nhà. Mỗi gia đình thường có ba thế hệ sống chung với nhau: ông bà - cha mẹ - con cái. Đối với gia đình Việt Nam thì người trụ cột là người chồng (hoặc người cha).

Thủ tướng Chính phủ Việt Nam ký ban hành Quyết định 72/2001/QĐ-TTg chọn ngày 28 tháng 6 hàng năm là ngày gia đình Việt Nam.

Thuật ngữ quan hệ trong gia đình

Ngoài hai từ chính thống cha và mẹ, các vùng khác nhau có những từ khác nhau như bố, ba, thầy để chỉ cha và má, u, mạ, mệ để chỉ mẹ.

Một số từ để chỉ mối quan hệ nếu có trong gia đình như: ông nội là cha của cha, bà nội là mẹ của cha, ông ngoại là cha của mẹ, bà ngoại là mẹ của mẹ.

  • Miền Nam: bác (trai) là anh của cha, bác gái là vợ của anh của cha, chú là em trai của cha, thím là vợ của chú, cô là chị hoặc em gái của cha. Cậu là anh hoặc em trai của mẹ, mợ là vợ của cậu. Dì là chị hoặc em gái của mẹ. Dượng là chồng của cô hoặc dì. Thông thường để gọi một người trong gia đình người ta dùng từ chỉ mối quan hệ kết hợp với thứ của người đó (nếu có quan hệ huyết thống) hoặc thứ của chồng hoặc vợ người đó (nếu không có quan hệ huyết thống) chẳng hạn như chú tư, vợ của chú tư được gọi là thím tư. Con trong gia đình được gọi từ thứ hai (con đầu) trở đi, không có con cả.
  • Miền Bắc: bác là anh hoặc chị của cha hoặc mẹ, vợ hoặc chồng của bác cũng được gọi là bác, chú là em trai của cha ngoài ra chú còn dùng để gọi chồng của cô hoặc chồng của dì, cô là em gái của cha, ngoài ra cô còn dùng để gọi vợ của chú, cậu là em trai của mẹ, mợ là vợ của cậu, dì là em gái của mẹ. Thông thường để gọi một người trong gia đình người ta dùng từ chỉ mối quan hệ kết hợp với tên của người đó. Con trong gia đình được gọi theo thứ tự cả, hai, ba, tư.

Anh em bà con (họ hàng): con của chú bác gọi là anh chị em chú bác (anh chị em con chú con bác), con của dì gọi là anh chị em bạn dì (anh chị em con dì), con của cô cậu gọi là anh chị em cô cậu (anh chị em con cô con cậu).

Dâu rể: gọi theo vợ hoặc chồng là người có quan hệ huyết thống với mình kết hợp với từ dâu hoặc rể ví dụ như con dâu, con rể, anh rể, em rể, chị dâu, em dâu. Hai người chồng của hai chị em gái miền Nam gọi là anh em cột chèo, miền Bắc gọi là anh em đồng hao hoặc đứng nắng. Hai người vợ của hai anh em trai gọi là chị em bạn dâu.

NGƯỜI CÔNG GIÁO VÀ ĐỜI SỐNG GIA ĐÌNH

 
Để bắt đầu bài này, cho phép chúng tôi đặt một câu hỏi: Ông (Bà) mong muốn gì nhất cho con cái?

Dĩ nhiên mỗi người sẽ có một câu trả lời khác nhau.

Có người bảo: “Cháu nó sẽ làm xướng ngôn viên truyền hình”.

Người khác lại bảo: “Tôi mong cháu sẽ làm một kế toán viên tài ba”.

Mỗi người một ước mơ tốt đẹp cho con cái. Thôi chúng ta tạm khép lại câu chuyện này và hãy tưởng tượng ra một bà tiên hiện ra đề nghị với quí ông quí bà thế này:

Ta sẽ ban cho ngươi hai bình nhiệm mầu. Bên trong chứa đựng những món quà quí hiếm. Ngươi được chọn 3 món quà cho con mình. Chỉ ba món thôi nhé. Trước khi chọn, ta đưa ra một điều kiện duy nhất là: cả 3 món ngươi chọn phải nằm trong cùng một bình đấy. Nào bây giờ ngươi chọn gì, bỏ gì ?

Bây giờ chúng ta hãy ghé mắt xem hai cái bình nhé. Một cái bình bằng hồng ngọc đỏ chói chứa đựng nào là sắc đẹp, sức khỏe, tài lộc, hạnh phúc, quyền lực, danh tiếng, sống lâu. Bình bọc bằng pha lê xanh biếc, trong đó thấp thoáng những kiên nhẫn, tử tế, đại lượng, hòa nhã, tự trọng, cảm thông, nhẫn nại, khoan dung , chịu dựng, lương thiện, chân thực , trung tín.

Bạn chọn 3 món quà nào đây? Nhớ nhé, cả 3 món đều phải trong một bình thôi đấy !

Trong khi chọn lựa, nhiều vị phụ mẫu cũng có lắm nhận định khác nhau:

Ông Bà A có thể nhìn vấn đề như thế này :

- “Chúng tôi chọn 3 món trong bình đỏ
: sức khỏe dồi dào, tiền tài sung túc và có nhiều quyền thế”

 - “Chúng tôi muốn con trai chúng tôi sau này đi theo con đường chính tr . Mà đó là 3 thứ mà chúng tôi thiết tưởng nó sẽ cần nhất.”

Ông Bà B có thể nghĩ như thế nầy:

 - “Chúng tôi chọn cho con cái 3 món trong bình màu xanh vì những thứ trong đó xem ra sẽ mang lại hạnh phúc cho một con người hơn là những món trong bình màu đỏ “

- “Nên chi , chúng tôi chọn “Lòng tốt, tự trọng, trung thực”.

Ông Bà C lại nghĩ khác:

- “Chúng tôi chọn 3 món trong bình màu đỏ: Thể hình Thẩm Mỹ (Sắc), An toàn Tài Chính (Lộc) và Sức Khỏe dồi dào (Thọ )”

- “Tại sao chúng tôi không xin bà tiên những món trong bình xanh? Vì chúng tôi nghĩ chính mình làm cha làm mẹ phải tặng cho con cái những món quà ấy.

- Và cũng vì những món trong bình đỏ vuợt quá “tầm tay” chúng tôi, nên chúng tôi đành “nhờ vả” bà tiên giúp cho con cái chúng tôi vậy”.

Còn Ông Bà theo quan điểm nào?

Có lẽ Ông Bà cũng thấy là quan điểm của Ông Bà C là “tối ưu” . Những món trong bình đỏ vượt tầm kiểm soát của con người, còn những món trong bình xanh thì không. Cha mẹ có thể nhờ việc chăm sóc, ảnh hưởng và gương tốt của mình để xây nền cho con cái biết cách tự hình thành những báu vật chứa đựng trong chiếc bình màu xanh đó.

Đó là lý do tại sao Giáo Hội Công Giáo nhấn mạnh nhiều đến tầm quan trọng của đời sống gia đình. Một gia đình hạnh phúc và ổn định sẽ cung cấp cho con cái một bầu khí thuận lợi để học hỏi sống tương giao với tha nhân: quan tâm, chia sẻ, yêu thương và tha thứ.

Nói cách khác, những hành trang thực sự trong đời con cái không do nhà trường hay do nhà thờ cung cấp, mà là do gia đình chuẩn bị thu xếp ngay từ đầu. Chính trong gia đình, con cái biết mình được yêu thương và được đón nhận như thế nào. Qua đó hình thành những nét chính yếu về chính bản thân, về mối tương quan giữa chúng và với người khác và với Thiên Chúa.

Cha mẹ chính là người thầy đầu tiên và quan trọng nhất của con cái. Nhiệm vụ này không bao giờ chấm dứt. Cha mẹ không thể và không bao giờ có thể thoái thác đuợc vai trò trách nhiệm này. Bất cứ làm gì, nói gì cũng đều “đập” vào tai mắt con cái và đều để lại một ấn tượng nào đó, tốt có mà xấu cũng có. Con cái nghĩ thế nào về những lời như thế này:

Bảo với mẹ mày là tao đi vắng nghe chưa !”

“Về bảo thằng bố mày cứ đi đâu cho khuất mắt, đừng vác xác về đây làm gì cho mệt”.

Cái cung cách bố mẹ nói chuyện hay cư xử với nhau, cách dàn xếp chuyện bất hòa, cách đối xử khoan dung, tha thứ đều hết sức quan trọng. Ngoài ra, gia đình còn là nơi dậy dỗ nhiều điều quan trọng hơn, đặc biệt là nơi hun đúc lòng đạo. Người công giáo tin rằng rất cần giúp trẻ thiết lập một mối liên hệ yêu thương với Thiên Chúa ngay từ thời còn thơ. Việc này được thực hiện rất đơn giản bằng cách vun đắp óc thẩm mỹ của trẻ khi nhìn ngắm thiên nhiên chung quanh. Rồi từ đó, chỉ cần một bước ngắn, là có thể giúp trẻ dệt thành những lời nguyện ngắn bầy tỏ với Thiên Chúa sự ngạc nhiên khâm phục, lòng cảm tạ biết ơn và lời ca ngợi chúc tụng. Trong các gia đình công giáo, cha mẹ thường đọc những lời nguyện này chung với con cái vào giờ đi ngủ. Nếu cả hai vợ chồng cùng phối hợp với nhau, cùng đến với con thì giây phút cầu nguyện sẽ là thời gian đẹp nhất trong ngày của con cái.

“Lạy Cha, chúng con dâng lời cảm tạ Cha đã thương cho chúng một ngày tuyệt đẹp, một ngày vui bên nhau...”

Trẻ em Công giáo thường Xưng tội - Rước Lễ lần đầu vào khoảng 8 hay 9 tuổi, và chịu Phép Thêm Sức  vào khoảng giữa 11 và 14 tuổi. Cần học hỏi giáo lý tại các giáo xứ trong thời gian chuẩn bị đón nhận những bí tích này. Ngày nay cha mẹ được khuyến khích tham gia vào quá trình chuẩn bị này tích cực hơn, chẳng hạn cha mẹ được mời dự những buổi họp phụ huynh, cùng với giáo xứ tổ chức lễ mừng, tĩnh tâm dọn lòng cùng rước lễ với con cái, gặp gỡ trao đổi những vấn đề liên quan ...

Những bí tích này là những dấu mốc trên những chặng đường sống đạo của con cái, vì vậy các ông bố bà mẹ Công giáo thường tỏ ra háo hức lo lắng đủ chuyện để làm cho những dịp này thành những kỷ niệm tươi đẹp đáng nhớ của con mình.

Thông thường trong đời sống xã hội, người ta cũng thích những lễ lạc hội hè nhưng đối với người công giáo còn có những ngày lễ như Giáng Sinh, Phục Sinh, các ngày Chúa Nhật và một số lễ trọng theo niên lịch phụng vụ. Những ngày lễ này có vị trí quan trọng trong đời sống gia đình công giáo. Các lễ nghi này mang một ý nghĩa sâu xa được đặt lên vị trí cao trong tâm hồn mỗi người. Vì vậy, trong những dịp lễ đặc biệt này, vợ chồng con cái ngoài việc cùng nhau đến thánh đường thờ phượng và tôn vinh Chúa, còn cần phải cùng nhau sống những ngày lễ này sao cho ý nghĩa ngay trong ngày sống của mình. Có như thế những lễ hội này mới trở nên dấu chỉ Lễ Hội Muôn Đời trên Thiên Quốc.

Sau cùng, trong thế giới ngày nay để xây dựng một gia đình theo khuôn khổ Kitô-giáo thật là khó, vì những bậc thang giá trị của xã hội tiêu thụ thường hay đối lập với những giá trị của Đức Giêsu Kitô. Vì vậy để gia đình sống theo đường lối Chúa, chúng ta phải chịu sức ép từ nhiều phía: nào là lối sống tự do buông thả chạy theo vật chất, nào là những quan niệm và trào lưu ngược lại với nền luân lý truyền thống và đôi khi chịu áp lực cả từ phía con cái...

Các bậc làm cha mẹ Công giáo cần ý thức rõ như vậy, để cùng nhau nỗ lực xây dựng gia đình mình trở nên một tổ ấm hạnh phúc, tràn ngập yêu thương, niềm vui, an bình và ân sủng của Chúa.